đặt vấn đề hay câu hỏi gợi mở và yêu cầu sinh viên thảo luận, tranh luận theo nhóm để giải quyết vấn đề đó.Giáo viên với vai trò hướng dẫn sinh viên từng bước giải quyết vấn đề.Từ đó giúp sinh viên đạt được mục tiêu dạy học. Sinh viên có thể học từ bạn học hay từ giáo viên để phát triển các kỹ năng xã hội, kỹ năng tư duy phản biện, giao tiếp, đàm phán để đưa ra quyết định. Các kỹ thuật, phương pháp được TCE áp dụng theo chiến lược này gồm có: phương pháp tranh luận (Debate), thảo luận (Discussions), học nhóm (Pear Learning) 12 11. Tranh luận (Debates): là tiến trình dạy học trong đó giáo viên đưa ra một vấn đềliênquan đến nội dung bài học, sinh viên với các quan điểm trái ngược nhau về vấn đề đó phải phân tích, lý giải, thuyết phục người nghe ủng hộ quan điểm của mình.
Thông qua hoạt động dạy học này, sinh viên hình thành các kỹ năng như tư duy phản biện, thương lượng và đưa ra quyết định hay kỹ năng nói trước đám đông. Thảo luận (Discussion): Là phương pháp dạy học trong đó sinh viên được chia thành cácnhóm và tham gia thảo luận về những quan điểm cho một vấn đề nào đó được giáo viên đặt ra. Khác với phương pháp tranh luận, trong phương pháp thảo luận, người học với cùng quan điểm mục tiêu chung và tìm cách bổ sung để hoàn thiện quan điểm, giải pháp của mình. Học nhóm (Pear Learning): Sinh viên được tổchức thành các nhóm nhỏ đểcùng nhaugiải quyết các vấn đề được đặt ra và trình bày kết quả của nhóm thông qua báo cáo hay thuyết trình trước các nhóm khác và giảng viên.
Các môn học trong chương trình nhấn mạnh việc học và làm việc nhóm thông qua việc chia nhóm để thực hiện đồ án của môn học trong suốt học kỳ. Mỗi thành viên trong nhóm đóng một vai trò khác nhau và cùng đóng góp cho việc thực hiện đồ án của môn học. Tự học Chiến lược tự học được hiểu là tất cả các hoạt động học của người học được thực hiện bởi cá nhân người học với rất ít hoặc không có sự hướng dẫn của giáo viên. Đây là một quá trình giúp sinh viên tự định hướng việc học của mình theo kinh nghiệm học tập của bản thân, có quyền tự chủ và điều khiển hoạt động học của họ thông qua các bài tập, dự án hay vấn đề mà giáo viên gợi ý, hướng dẫn ở lớp.
Phương pháp học theo chiến lược này được áp dụng chủ yếu là phương pháp bài tập ở nhà (Work Assigment) và Đồ án của môn học (Course project). Bài tập ở nhà (Work Assigment): Theo phương pháp này, sinh viên được giao nhiệm vụlàm việc ở nhà với những nội dung và yêu cầu do giáo viên đặt ra. Thông qua việc hoàn thành các nhiệm vụ được giao ở nhà, sinh viên học được cách tự học, cũng như đạt được những nội dung về kiến thức cũng như kỹ năng theo yêu cầu. Dự án của môn học (Course project): Theo phương pháp này, một nhóm sinh viên sẽ thực hiện một dự án trong suốt học kỳ.
Thông qua dự án, sinh viên thực hiện quá trình phân tích, thiết kế và tổ chứcmột sự kiện mà giáo viên yêu cầu để đạt 13 được nội dung kiến thức và kỹ năng được đặt ra. Nhóm sinh viên phải tự làm việc và nộp báo cáo trên từng giai đoạn. Giảng viên sẽ nhận xét trên báo cáo từng giai đoạn và cho hướng dẫn để nhóm sinh viên tiến hành các bước cải thiện và điều chỉnh quá trình hiện thực tiếp theo. Cuối học kỳ, nhóm sinh viên phải nộp quyển báo cáo.
Tùy theo mức độ của dự án, giảng viên có thể chấm trực tiếp trên quyển báo cáo hay yêu cầu sinh viên trình bày trước hội đồng, thực thi chương trình thử nghiệm và trả lời câu hỏi của hội đồng (bao gồm từ 2 đến 3 giảng viên). Thông qua phương án học tập này, sinh viên sẽ vận dụng một cách sáng tạo kiến thức đã học để giải quyết một bài toán thực tế. Công việc này đòi hỏi sự nỗ lực tự học và là việc của sinh viên, dưới sự giám sát, hướng dẫn và đánh giá của giảng viên. Phương pháp đánh giá 1.1 Các phương pháp đánh giá Đánh giá kết quả học tập của sinh viên là quá trình ghi chép, lưu giữ và cung cấp thông tin về sự tiến bộ của người học trong suốt quá trình dạy học.
Việc đánh giá đảm bảo nguyên tắc rõ ràng, chính xác, khách quan và phân hóa, thường xuyên liên tục và định kỳ. Yêu cầu và tiêu chí đánh giá cụ thể được Khoa Du lịch - khách sạn thiết kế và công bố, làm rõ cho người học trước khi học. Các thông tin về đánh giá được cung cấp và chia sẽ kịp thời cho các bên liên quan gồm người dạy, người học,và nhà quản lý.Từ đó, kịp thời có những điều chỉnh về các hoạt động dạy học, đảm bảo định hướng và đạt được mục tiêu dạy học. Khoa đã xây dựng và áp dụng nhiều phương pháp đánh giá khác nhau.
Tùy thuộc vào chiến lược, phương pháp dạy học và yêu cầu đáp ứng chuẩn đầu ra của từng môn học để lựa chọn các phương pháp đánh giá phù hợp, đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin để đánh giá mức độ tiến bộ của người học cũng như mức độ hiệu quả đạt được của tiến trình dạy học. Các phương pháp đánh giá được sử dụng trong chương trình đào tạo của khoa được chia thành 2 loại chính là đánh giá theo tiến trình (On-going/Formative Assessment) và đánh giá tổng kết/định kỳ (Summative Assessment). ➢ Đánh giá tiến trình (On-going/Formative Assessment) Mục đích của đánh giá tiến trình là nhằm cung cấp kịp thời các thông tin phản hồi của người dạy và người học về những tiến bộ cũng như những điểm cần khắc phục xuất hiện trong quá trình dạy học. 14 Các phương pháp đánh giá cụ thể với loại đánh giá tiến trình được TCE áp dụng gồm: đánh giá chuyên cần (Attendance Check), đánh giá bài tập (Work Assigment), và đánh giá thuyết trình (Oral Presentation) 1.
Đánh giá chuyên cần (Attendence) Ngoài thời gian tự học, sự tham gia thường xuyên của sinh viên cũng như những đóng góp của sinh viên trong khóa học cũng phản ánh thái độ học tập của họ đối với khóa học. Việc đánh giá chuyên cần được thực hiện theoquy định. Đánh giá bài tập (Work Assigment) Người học được yêu cầu thực hiện một số nội dung liên quan đến bài học trong giờ học hoặc sau giờ học trên lớp. Các bài tập này có thể được thực hiện bởi cá nhân hoặc nhóm.
Đánh giá thuyết trình (Oral Presentaion) Trong một số môn học thuộc chương trình đào tạo của TCE, sinh viên được yêu cầu yêu làm việc theo nhóm để giải quyết một vấn đề, tình huống hay nội dung liên quan đến bài học và trình bày kết quả của nhóm mình trước các nhóm khác. Hoạt động này không những giúp sinh viên đạt được những kiến thức chuyên ngành mà còn giúp sinh viên phát triển các kỹ năng như kỹ năng giao tiếp, thương lượng, làm việc nhóm. ➢ Đánh giá tổng kết/định kỳ (Summative Assessment) Mục đích của loại đánh giá này là đưa ra những kết luận, phân hạng về mức độ đạt được mục tiêu và chất lượng đầu ra, sự tiến bộ của người học tại thời điểm ấn định trong quá trình dạy học gồm đánh giá cuối chương trình học, đánh giá giữa học kỳ, và đánh giá cuối học kỳ. Các phương pháp đánh giá được sử dụng trong loại đánh giá này gồm có: Kiểm tra viết (Written Exam), Kiểm tra trắc nghiệm (Multiple choice Exam), Bảo vệ và thi vấn đáp (Oral Exam), Báo cáo (Written Report), Thuyết trình (Oral Presentation), đánh giá làm việc nhóm (Teamwork Assesment).
Kiểm tra viết (Writing) Theo phương pháp đánh giá này, sinh viên được yêu cầu trả lời một số câu hỏi, bài tập hay ý kiến cá nhân về những vấn đề liên quan đến yêu cầu chuẩn đầu ra về kiến thức của học phần và được đánh giá dựa trên đáp án được thiết kế sẳn.Thang điểm đánh giá được sử dụng trong phương pháp đánh giá này là thang 10. Số lượng câu hỏi 15 trong bài đánh giá được thiết kế tùy thuộc vào yêu cầu nội dung kiến thức của học phần. Kiểm tra trắc nghiệm (Multiple choice) Phương pháp đánh giá này tương tự như phương pháp kiểm tra viết, sinh viên được yêu cầu trả lời các câu hỏi liên quan dựa trên đáp án được thiết kế sẳn. Điểm khác là trong phương pháp đánh giá này sinh viên trả lời các câu hỏi yêu cầu dựa trên các gợi ý trả lời cũng được thiết kế và in sẳn trong đề thi.
Bảo vệ và thi vấn đáp (Oral Exam) Trong phương pháp đánh giá này, sinh viên được được đánh gía thông qua phỏng vấn, hỏi đáp trực tiếp. Báo cáo (Writing Report) Sinh viên được đánh giá thông qua sản phẩm báo cáo của sinh viên, bao gồm cả nội dung trình bày trong báo cáo, cách thức trình bày thuyết minh, bản vẽ/ hình ảnh trong báo cáo. Đánh giá thuyết trình (Oral Presentaion) Phương pháp đánh giá này hoàn toàn giống với phương pháp đánh giá thuyết trình trong loại đánh giá tiến trình. Đánh giá được thực hiện theo định kỳ (giữa kỳ, cuối kỳ, hay cuối khóa).
Đánh giá làm việc nhóm (Peer Assessment) Đánh giá làm việc nhóm được áp dụng khi triển khai hoạt động dạy học theo nhóm và được dùng để đánh giá kỹ năng làm việc nhóm của sinh viên. Công cụ, tiêu chí đánh giá Trên cơ sở các phương pháp đánh giá, khoa DL - KS đã xây dựng các công cụ, tiêu chí cụ thể để thực hiện việc đánh giá sinh viên, có sử dụng Rubrics. Tùy theo yêu cầu, mục tiêu và đặc trưng của từng môn học để lựa chọn phương pháp đánh giá cũng như Rubrics đánh giá thích hợp. Cùng một phương pháp đánh giá có thể áp dụng Rubric đánh giá khác nhau cho các học phần khác nhau.Cụ thể như sau: Đánh giá chuyên cần, cụ thể: 1.
Đối với trường hợp sinh viên nghỉ họckhông xin phép Tổng số điểm chuyên cần/học phần: 10/100 - Sinh viên nghỉ 1 buổi: Bị trừ 1 điểm còn 9 điểm 16 - Sinh viên nghỉ 2 buổi: Bị trừ 5 điểm còn 5 điểm - Sinh viên nghỉ 3 buổi: Điểm chuyên cần bằng 0 điểm 2. Đối với trường hợp sinh viên nghỉ học có xin phép (lý do chính đáng, không quá 30% số giờ lên lớp) giảng viên có thể linh hoạt tính điểm chuyên cần, tối đa 2 buổi nghỉ có phép bằng 1 buổi nghỉ không phép. Đối với trường hợp sinh viên đi học trễ sau 15 phút khi bắt đầu tiết học, tùy theo từng giảng viên quy định, có thể tính sinh viên nghỉ học không quá ½ buổi học.