phần mở đầu, 3 chƣơng và kết luận. Chƣơng 1: Du lịch Việt Nam và nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực. Chƣơng 2: Khảo sát chƣơng trình đào tạo cử nhân du lịch của một số trƣờng đại học ở Hà Nội. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và nội dung hoàn thiện chƣơng trình đào tạo cử nhân du lịch.
Ngoài các phần chính nêu trên là hệ thống tài liệu tham khảo. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 DU LỊCH VIỆT NAM VÀ NHU CẦU ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1. Sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam 1. Ngành du lịch Việt Nam trước năm 1990 So với nhiều ngành khác, ngành du lịch Việt Nam tuy ra đời muộn và là một ngành kinh tế mới phát triển trong khoảng 15 năm trở lại đây nhƣng khá mạnh mẽ và đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc.
Công ty Du lịch Việt Nam, tổ chức Du lịch đầu tiên của nƣớc ta, ra đời vào ngày 9 tháng 7 năm 1960 (theo Nghị định 26/CP của Hội đồng Chính phủ). Khi đó, cơ sở vật chất kỹ thuật rất nghèo nàn, lạc hậu; đội ngũ cán bộ công nhân viên có 112 ngƣời, hầu hết chƣa đƣợc đào tạo về nghiệp vụ du lịch. Tuy nhiên, những con ngƣời đầu tiên này, với tinh thần trách nhiệm và lòng nhiệt tình của mình, đã hoàn thành tốt nhiệm vụ phục vụ các đoàn khách của Đảng và Chính phủ, đã đặt nền móng cho sự hình thành một ngành kinh tế mới mẻ của đất nƣớc. Đến ngày 16 tháng 3 năm 1963, do lƣợng khách ngày một tăng và do nhu cầu tham quan, du lịch bắt đầu xuất hiện, Công ty Du lịch Việt Nam đã đƣợc Bộ trƣởng Bộ Ngoại thƣơng giao thêm nhiệm vụ kinh doanh du lịch nhằm thu thêm ngoại tệ cho đất nƣớc.
Ngày 5 tháng 8 năm 1964, Mỹ đã dựng lên sự kiện Vịnh Bắc Bộ để tiến hành cuộc chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc. Nhân dân miền Bắc bƣớc vào giai đoạn chiến tranh. Tuy nhiên, ngành du lịch Việt Nam không phải vì thế mà đình trệ hoàn toàn. Một số tour du lịch vẫn đƣợc thực hiện, chủ yếu là dành cho các khách nƣớc ngoài (từ các nƣớc xã hội chủ nghĩa).
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đảng và Nhà nƣớc mặc dù tập trung cao độ vào công việc lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc song vẫn quan tâm đến phát triển du lịch Ngày 18 tháng 8 năm 1969, ngành du lịch do Phủ Thủ tƣớng trực tiếp quản lý. Mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh, kinh phí rất hạn hẹp, ngành du lịch vẫn đƣợc Nhà nƣớc đầu tƣ, một số tuyến điểm du lịch quan trọng đã đƣợc xây dựng. Cơ sở vật chất cho các cơ quan du lịch cũng đƣợc tăng cƣờng nhƣ phƣơng tiện vận chuyển khách, các loại vật tƣ phục vụ du lịch. Về phƣơng diện tổ chức, Nhà nƣớc đã thành lập ra các bộ phận chuyên phục vụ chuyên gia nƣớc ngoài, kể cả các chuyên gia quân sự sang làm việc tại Việt Nam.
Du lịch Việt Nam thực sự phát triển nhanh sau khi miền Nam đƣợc hoàn toàn giải phóng. Hàng loạt khách sạn lớn ở miền Nam, đặc biệt là ở Sài Gòn đƣợc Nhà nƣớc tiếp thu và giao cho Công ty Du lịch Việt Nam quản lý, đƣa vào khai thác, sử dụng. Sự thông thƣơng giữa hai miền Nam Bắc là điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển du lịch. Khách nƣớc ngoài bắt đầu đến Việt Nam nhiều hơn, không chỉ từ các nƣớc xã hội chủ nghĩa mà còn từ các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa.
Đến ngày 27/6/1978, Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội ban hành Quyết nghị số 262 NQ/QHK6 phê chuẩn việc thành lập Tổng cục Du lịch Việt Nam trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Thủ tƣớng chính phủ đã ban hành Nghị định số 32/CP ngày 23/01/1979 quyết định chính thức thành lập Tổng cục Du lịch Việt Nam. Sự ra đời của Tổng cục Du lịch Việt Nam đã tạo ra bƣớc ngoặt lớn trong sự chỉ đạo của Nhà nƣớc đối với hoạt động du lịch Việt Nam. Dƣới sự chỉ đạo của Tổng cục Du lịch Việt Nam, nhiều công ty du lịch mới đã ra đời.
Cả nƣớc lúc đó có 30 công ty du lịch. Số lƣợng khách sạn, nhà hàng, phƣơng tiện vận chuyển … tăng lên rất nhiều. Đặc biệt, số lƣợng cán bộ, nhân viên phục vụ du lịch lên tới hàng vạn ngƣời. Hầu hết các công ty du lịch đều do Nhà nƣớc quản lý.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về khách du lịch, số lượng cũng tăng nhanh theo từng năm: + Khách quốc tế: - Năm 1986: 54.353 lƣợt ngƣời.573 lƣợt ngƣời. + Khách nội địa: - 1986: 280.000 lƣợt ngƣời.000 lƣợt ngƣời. Về doanh thu: - Năm 1986: 215. Ngành du lịch Việt Nam từ năm 1990 đến nay Có thể nói, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nƣớc.
Đây là đại hội của thời kỳ đổi mới và mở cửa. Sau 30 năm chiến tranh, đất nƣớc không có điều kiện hội nhập về kinh tế một cách rộng rãi, thay vì việc nhận viện trợ một chiều từ Liên Xô, Trung Quốc và các nƣớc xã hội chủ nghĩa anh em khác, chúng ta bắt đầu phát huy nội lực, phát triển hợp tác quốc tế song phƣơng và đa phƣơng. Sự chuyển mình của cả đất nƣớc kéo theo sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam. Để phù hợp với tình hình phát triển của đất nƣớc và xu hƣớng phát triển trên thế giới, ngày 19/8/2003, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 94/2003/NĐ-CP về Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Du lịch.
Các sở Quản lý Nhà nƣớc về Du lịch đã đƣợc thành lập. Sau những năm khó khăn về giá- lƣơng-tiền ở những năm cuối của thập kỷ 80, thế kỷ XX, ngƣời dân thực sự đã có tiền để nghĩ đến việc đi du lịch. Tuy nhiên do là một ngành mới phát triển nên phải đến những năm 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1990, Du lịch Việt Nam mới có những bƣớc chuyển mình đáng kể. Hoạt động kinh doanh du lịch bƣớc đầu đƣợc mở ra ở nhiều ngành, nhiều cơ quan, không chỉ trong phạm vi các thành phần kinh tế nhà nƣớc mà còn ở cả những thành phần kinh tế khác.
Nhiều công ty, trong đó có cả những công ty tƣ nhân đã ra đời. Hoạt động du lịch trở nên sôi nổi. Không chỉ các công ty du lịch hoạt động mà nhiều cơ quan nhà nƣớc, nhiều tập thể dân cƣ cũng tự tổ chức các chuyến du lịch. Trƣớc xu thế đó, du lịch không chỉ còn đƣợc coi là một hoạt động văn hoá xã hội thuần tuý mà còn là một ngành kinh tế quan trọng của đất nƣớc.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Du lịch Việt Nam năm 2004, số lƣợng khách du lịch có sự gia tăng rất lớn: từ năm 1991 đến năm 2000, khách du lịch quốc tế tăng 7,1 lần, từ 300 nghìn lƣợt lên 2,14 triệu lƣợt; khách du lịch nội địa tăng 7,5 lần, từ 1,5 triệu lƣợt lên 11,3 triệu lƣợt. Đây là mức tăng trƣởng khá cao so với các nƣớc trong khu vực và thế giới. Thu nhập xã hội từ du lịch cũng tăng với tốc độ đáng kể, thƣờng đạt mức trên 30%/năm, năm 1991 là 2.240 tỷ đồng, năm 2000 đạt 17.400 tỷ đồng, năm 2004 đạt 26.000 tỉ đồng, tƣơng đƣơng với 1,8 tỉ USD, tới năm 2005: 30.000 tỉ đồng, tƣơng đƣơng với 2 tỉ USD. Trong những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, nền kinh tế nƣớc ta đi vào thế ổn định, có những bƣớc phát triển vững chắc làm cơ sở cho hội nhập quốc tế trên quy mô lớn.
Việc đầu tƣ cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ du lịch vì thế thuận lợi hơn trƣớc rất nhiều. Sự thay đổi bắt đầu ngay từ trong quan niệm về đầu tƣ. Các nhà lãnh đạo, các nhà kinh tế cho rằng đầu tƣ vào du lịch càng lớn thì thu lợi nhuận càng nhanh. Điều này đã có thực tế ở các khu du lịch Đầm Sen, Suối Tiên (Thành phố Hồ Chí Minh).
Nhìn lại quá trình đầu tƣ, chúng ta thấy nhƣ sau: 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về kinh doanh khách sạn (theo tài liệu thống kê của Tổng cục Du lịch tính đến tháng 12 năm 2004): - Năm 1991 có 11. Điều quan trọng ở đây là chất lƣợng các phòng khách sạn đƣợc nâng lên rõ rệt. Các khách sạn đã đƣợc xếp loại với những tiêu chuẩn rõ ràng. Quy trình kiểm tra, đánh giá đƣợc thực hiện khách quan, nghiêm túc.847 cơ sở lƣu trú, trong đó có 2.569 cơ sở đƣợc xếp hạng khách sạn từ 1 đến 5 sao.
Cùng với sự phát triển nhanh của các cơ sở lƣu trú (khách sạn) là hệ thống các khu vui chơi giải trí, khu thể thao (đặc biệt là các sân golf) đƣợc hình thành với chất lƣợng khá tốt. Nói đến sự phát triển của du lịch, không thể không nói tới sự phát triển của cơ sở hạ tầng (hệ thống giao thông đƣờng bộ, đƣờng thuỷ, đƣờng không, hệ thống điện và hệ thống thông tin-truyền thông). Trong những năm qua, cơ sở hạ tầng của toàn quốc đã phát triển khá nhanh, trực tiếp ảnh hƣởng tốt đến sự phát triển của du lịch. Phƣơng tiện đi lại cũng đƣợc hiện đại hóa và tăng nhanh về số lƣợng.
Chỉ tính đến năm 2000, theo thống kê của Tổng cục Du lịch, toàn quốc đã có tới 194 dự án đầu tƣ của nƣớc ngoài vào Việt Nam với mục đích kinh doanh du lịch, tổng số vốn là 5. Vốn đầu tƣ của Nhà nƣớc cho phát triển du lịch chiếm 1% tổng số vốn dành cho các ngành sản xuất và dịch vụ. Hơn nhiều ngành kinh tề văn hóa khác, hội nhập quốc tế là nhu cầu thiết yếu của ngành du lịch. Thiếu hội nhập quốc tế, ngành du lịch sẽ phát triển chậm và thu nhập hàng năm sẽ bị giảm nghiêm trọng.
Trong những năm 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com qua, nhờ sự hội nhập quốc tế, các nƣớc hiểu Việt Nam hơn và vì thế, khách du lịch đến Việt Nam ngày càng đông hơn, thời gian lƣu trú ngày càng dài hơn. Tuy vậy, đó chƣa phải là điều quan trọng nhất. Điều quan trọng là chúng ta đã thực hiện đƣợc những chƣơng trình, mục tiêu chiến lƣợc về sự hội nhập quốc tế của ngành. Các hoạt động hợp tác song phƣơng và đa phƣơng đã không ngừng củng cố và nâng cao vị thế của ngành du lịch Việt Nam.
Đất nƣớc chúng ta đã trở thành một điểm đến của du lịch thế giới trong những năm đầu thế kỷ XXI.