Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT 1. Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm quyền công tố Cho đến nay, trong các nghiên cứu có nhiều quan điểm về quyền công tố, quan điểm cho rằng, quyền công tố gắn liền với sự phát triển của khoa học pháp lý, khi mà các khái niệm dân chủ và quyền con người được đề cao, đòi hỏi cần phải có một cơ quan thay mặt nhà nước đứng ra bảo vệ quyền bị xét xử bởi các cơ quan tư pháp [39, tr. Theo quan điểm này thì quyền công tố chỉ xuất hiện khi nhà nước đó phát triển ở mức độ tương đối cao, chỉ xuất hiện trong nhà nước có tính chất pháp quyền.
Quan điểm thứ hai, coi công tố là một quyền độc lập, chỉ có trong xã hội dân chủ, nhằm bảo vệ quyền của các chủ thể quan hệ pháp luật khi tham gia quá trình tố tụng tại phiên tòa và thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật (có thể nằm trong cơ cấu của Tối cao pháp viện). Cơ quan công tố là “mối dây liên lạc giữa các cơ quan công quyền với quần chúng, giữa các cơ quan công quyền với nhau nhằm phục vụ lợi ích của các bên theo quy định của pháp luật”. Đại diện cho trường phái này là E.Hermann và tập thể tác giả trong cuốn “Quyền công tố trong cơ cấu hành chính – chính trị”. Các tác giả nhấn mạnh quyền công tố là một loại quyền năng mà khi có sự phân chia triệt để ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp thì phải có một loại cơ quan đặc biệt để thực hiện quyền tư pháp nhưng “chống” lại quyền xét xử để nhằm bảo vệ các đạo luật, bảo vệ Chính phủ và các thể nhân bị Tòa án xét xử.
Đó là quyền công tố [39, tr. Quan điểm thứ ba cho rằng, với việc tách các cơ quan Tòa án ra khỏi hệ thống các cơ quan 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hành pháp, cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật thì công tố mới xuất hiện. Những người theo quan điểm này cho rằng, quyền công tố là quyền đại diện cho nhà nước, đại diện công quyền để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật thống trị ra cơ quan xét xử (ra Tòa án), do đó quyền công tố không thể xuất hiện cùng với nhà nước mà chỉ xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Tòa án với tư cách là cơ quan xét xử chuyên nghiệp và độc lập [39, tr. Không đồng ý với các quan điểm nêu trên, quan điểm cho rằng, quyền công tố là một khái niệm pháp lý, gắn liền với bản chất của nhà nước và xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật.
Quyền công tố tồn tại trong tất cả các kiểu nhà nước, từ nhà nước chủ nô đến các nhà nước đại diện [39, tr. Quan điểm này là khá cởi mở và coi quyền công tố như một đặc tính vốn có của nhà nước như dân cư, lãnh thổ.Trong các nghiên cứu ở nước ta hiên nay, đa phần ủng hộ quan điểm này,và cho rằng: Quyền công tố luôn luôn gắn liền với bản chất của nhà nước, là một bộ phận cấu thành và không thể tách rời của công quyền. Với quan điểm coi quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước (nhân danh công quyền) thực hiện việc buộc tội đối với những người đã thực hiện hành vi phạm tội (theo quan điểm của giai cấp thống trị xã hội), chúng tôi cho rằng khi nhà nước xuất hiện thì cùng đồng thời xuất hiện quyền công tố. Nhà nước nào cùng ban hành pháp luật để quản lý xã hội (nói chính xác hơn là để điều chỉnh các quan hệ xã hội, giữ cho các quan hệ xã hội được thực hiện theo ý muốn, theo khuôn mẫu tư tưởng của giới thống trị xã hội).
Đồng thời nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại khi xuất hiện và tồn tại những mâu thuẫn đối kháng (mang tính giai cấp) không thể điều hòa được. Điều đó có nghĩa là trong bất kỳ một xã hội nào (khi đã xuất hiện nhà nước), bên cạnh lực lượng thống trị xã hội luôn luôn tồn tại một (hoặc nhiều) lực lượng (bị thống trị) có thái độ, có hành động thù địch chống lại lực lượng thống trị xã hội (nắm quyền lực nhà nước), biểu hiện cụ thể ở 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những hành vi vi phạm pháp luật (chống lại ý chí của giai cấp thống trị) đến mức nguy hiểm (đe dọa đến quyền thống trị nhà nước) cần phải bị trừng trị. Muốn trừng trị kẻ vi phạm thì phải buộc được tội của họ. Quyền nhân danh nhà nước (nhân danh công quyền) thực hiện sự buộc tội này chính là quyền công tố.
Tuy nhiên việc tổ chức thực hiện quyền công tố, nội dung quyền công tố, và phạm vi thực hành quyền này được quy định rất khác nhau ở mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ lịch sử, tùy thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Ngay trong một nhà nước cụ thể với một chế độ chính trị xác định, ở mỗi giai đoạn phát triển của nó cũng có thể có những thay đổi nhất định trong việc tổ chức và xác định phạm vi thực hiện quyền công tố. Thời kỳ đầu, khi nhà nước mới ra đời, trong điều kiện bộ máy nhà nước còn đơn giản và hệ thống pháp luật mới được hình thành quyền công tố chỉ được sử dụng trong một phạm vi hẹp để bảo vệ các lợi ích công, như các lợi ích của nhà nước (của giai cấp thống trị) và lợi ích của cả cộng đồng. Do đó chức năng nhà nước chưa được phân định rõ ràng giữa các cơ quan nhà nước, quyền công tố có thể do một cơ quan, thậm chí một quan chức nhà nước duy nhất thực hiện từ đầu đến cuối.
Ví dụ, trong nhà nước chủ nô hoặc phong kiến, việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thông thường chỉ do một quan án đảm nhiệm. Càng về sau cùng với sự phát triển, hoàn thiện của bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật, việc phân định chức năng nhà nước giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước ngày càng cụ thể, rõ ràng hơn theo hướng chuyên môn hóa. Mặt khác, nhận thức xã hội về lợi ích công, lợi ích tư, về trách nhiệm của nhà nước đối với xã hội và cá nhân đã có sự thay đổi đáng kể. Dần dần, nhà nước (giai cấp thống trị) nhận thức một cách đầy đủ và rõ ràng rằng, trong nhiều trường hợp khi có lợi ích cá nhân bị xâm phạm thì lợi ích công (như trật tự công cộng, an ninh xã hội.) cũng bị xâm hại hoặc bị đe dọa.
Bởi vậy, cần 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thiết phải có sự can thiệp của nhà nước để bảo vệ lợi ích cá nhân khi chúng bị xâm phạm. Chính vì lẽ đó, vai trò của công tố ngày càng được đề cao, trong khi vai trò của tư tố ngày càng mờ nhạt dần trong hoạt động tố tụng hình sự. Quyền công tố có liên hệ chặt chẽ với pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự, trong đó quy định cụ thể các loại hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm. Bất kỳ giai cấp thống trị nào khi lên nắm quyền lực nhà nước đều hết sức quan tâm đến lĩnh vực pháp luật hình sự, bởi chính pháp luật hình sự là phương tiện cai trị hữu hiệu nhất.
Khi một hành vi bị coi là tội phạm được thực hiện sẽ làm phát sinh một loại quan hệ pháp luật giữa một bên là nhà nước và bên kia là người phạm tội. Trong quan hệ này nhà nước là chủ thể sử dụng quyền lực nhà nước (quyền lực công) để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, còn người phạm tội là chủ thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự và gánh chịu các chế tài do pháp luật hình sự quy định và áp dụng. Quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hình sự gắn liền với sự buộc tội nhân danh nhà nước (nhân danh công quyền) và chỉ phát sinh khi có hành vi phạm tội xảy ra. Sự buộc tội nhân danh công quyền đó được gọi là quyền công tố.
Từ những phân tích trên, chúng tôi chia sẻ quan điểm cho rằng: “quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất của nhà nước. Nó xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật, tồn tại khi có nhà nước và mất đi khi không còn nhà nước” [39, tr. Đồng thời, đồng ý với quan điểm của TS. Lê Hữu Thể khi đưa ra định nghĩa về quyền công tố: Quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Quyền này thuộc về nhà nước, được nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là Viện kiểm sát) để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Để làm được điều này, cơ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên toà [39, tr. Khái niệm thực hành quyền công tố Khi nghiên cứu về thực hành quyền công tố, trong giới luật học hiện nay còn tồn tại hai xu hướng khác nhau: Một là, họ gắn việc thực hành quyền công tố với việc thực hiện những nhiệm vụ khác của những Công tố viên trong tố tụng hình sự.
Cơ sở lý luận mà họ dựa vào là việc tổ chức và hoạt động của cơ quan công tố ở nước ngoài, cơ sở pháp lý mà họ đưa ra là các quy định của pháp luật hiện hành của nước ta, nhưng chỉ bó hẹp ở phạm vi truy tố hoặc buộc tội của VKSND trước Tòa án (vốn là những nét hoạt động công tố tương đồng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới). Một số khác thì lại mở rộng phạm vi thực hành quyền công tố được thực hiện trong mọi giai đoạn tố tụng bao gồm cả điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án [23, tr.