Chương 1: Cơ sở lý luận và khái quát địa bàn nghiên cứu Chương 2: Chức năng kinh tế của gia đình ngƣời Việt ở xã Yên Trung Chương 3: Các yếu tố tác động đến chức năng kinh tế của gia đình 12 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản Gia đình: Theo định nghĩa trong Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi năm 2014, “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật” (Luật Hôn nhân gia đình, 2014). Ngay trong các từ điển, định nghĩa về gia đình cũng khác nhau. Theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, định nghĩa gia đình là: “Tập hợp những người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái” [36, tr.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam đƣa ra khái niệm gia đình “Là thiết chế xã hội dựa trên cơ sở kết hợp những thành viên khác giới, thông qua hôn nhân, để thực hiện các chức năng sinh học, kinh tế, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng… Khi gia đình đã có con cái thì các thành viên trong gia đình được liên kết với nhau vừa bằng quan hệ hôn nhân (không cùng huyết thống) vừa bằng quan hệ huyết thống (theo dòng mẹ hoặc dòng bố).Gia đình là một phạm trù lịch sử, thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội” [22, tr. Theo quan điểm của tác giả Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp cho rằng: “Bản chất của gia đình là loại hình chung sống của cặp nam nữ được liên kết nhờ hôn nhân nhằm để tái sản xuất, cùng nhau thực hiện những chức năng trong các lĩnh vực đời sống” [5, tr. Hộ gia đình: Là một nhóm những ngƣời sống chung với nhau và hợp tác về kinh tế, không phải tất cả đều là thành viên trong gia đình. Những nhà 13 nhân học gọi những nhóm ngụ cƣ theo nhiệm vụ là hộ gia đình.
Còn gia đình là một nhóm xã hội đƣợc đặc trƣng bởi nhà ở chung, hợp tác kinh tế và tái sản sinh, một số thành viên trong gia đình lại có thể sống riêng (nhƣ khi trẻ em sống xa nhà để đi học, hoặc khi những thành viên cá thể trong gia đình đi làm việc ở nới khác xã nhà ở chính của gia đình). Phân biệt gia đình và hộ gia đình là hữu ích để tìm hiểu một số hệ thống gia đình, song phải luôn nhớ rằng khi bàn đến những xã hội đặc thù thì đơn vị mà cả hai tƣ ngữ đó quy chiếu là cần đƣợc xác định về mặt văn hóa, mỗi một xã hội có cách định nghĩa riêng về gia đình và hộ gia đình [16, tr 121, 122]. Thành viên gia đình: bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dƣợng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của ngƣời cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột. Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thƣờng về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thƣờng khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi ngƣời, mỗi gia đình.
Cấp dưỡng là việc một ngƣời có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của ngƣời không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dƣỡng trong trƣờng hợp ngƣời đó là ngƣời chƣa thành niên, ngƣời đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc ngƣời gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Chức năng của gia đình: Gia đình là một thiết chế xã hội có các hoạt động và cơ chế tổ chức ở các lĩnh vực nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của gia đình. Gia đình có một số chức năng cơ bản nhƣ: Chức năng cơ bản của gia 14 đình gồm: Chức năng sinh sản, tái sản xuất ra con ngƣời; Chức năng giáo dục - xã hội hóa cá nhân; Chức năng kinh tế; Chức năng tâm lý - tình cảm. - Chức năng kinh tế của gia đình.
Trong xã hội truyền thống và cho tới ngày nay, gia đình là một đơn vị sản xuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Chức năng kinh tế là những cơ chế, hoạt động và các mối quan hệ của tất cả các thành viên tạo ra sản phẩm vật chất trong phạm vi gia đình nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển gia đình và xã hội. Chức năng kinh tế của gia đình bao gồm: chức năng sản xuất, chức năng tiêu dùng, chức năng tích lũy. Trong xã hội Việt Nam truyền thống, gia đình là một đơn vị kinh tế độc lập với nền kinh tế tự sản xuất, tự tiêu dùng và có sự phân công lao động hợp lý theo đặc trƣng văn hóa của mỗi tộc ngƣời đối với tất cả các thành viên trong gia đình cùng tham gia lao động, sản xuất, cùng hƣởng thụ thành quả lao động và cùng tích lũy tài sản cho các thế hệ kế tiếp.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi đi sâu vào phân tích rõ hơn cụm từ “Chức năng kinh tế của gia đình”. Chức năng kinh tế hiểu theo nghĩa đầy đủ gồm có hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động tiêu dùng để thỏa mãn nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại của mỗi thành viên và của cả gia đình. Sự phát huy các hoạt động trong chức năng kinh tế gia đình để khẳng định sự phát triển và tồn tại của cá nhân, của nhóm cá nhân và rộng hơn là của toàn xã hội. Hiện nay, cơ chế thị trƣờng phát triển, quá trình công nghiệp hóa đƣợc đẩy mạnh làm cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của gia đình cũng thay đổi một cách nhanh chóng.
Theo đó, việc phân công lao động giữa lao động gia đình và lao động xã hội cũng bắt đầu chuyển đổi. Các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ gia đình ngày càng phong phú và gia đình cũng trở thành một đơn vị tiêu dùng với những yêu cầu ngày càng đa dạng, phong phú hơn. Tuy nhiên hai chức năng sản xuất và tiêu dùng không còn cân bằng trong hoạt động của gia đình nữa mà nó đang nghiêng về chức năng tiêu dùng nhiều hơn. 15 Chính yếu tố về nhu cầu của gia đình ngày càng tăng nên việc cung cấp sản phẩm hàng hóa nó không thể diễn ra trong phạm vi gia đình, mang tính tự cung tự cấp nữa mà việc sản xuất đƣợc mở rộng, phát triển vƣợt ra ngoài phạm vi gia đình, điều này góp phần vào sự phát triển kinh tế chung của đất nƣớc.
Biến đổi chức năng: Theo tác giả Hoàng Phê thì “Biến đổi là sự thay đổi khác trƣớc” [36, tr. Trong luận văn này, biến đổi đƣợc nhìn nhận và tập trung vào sự biến đối chức năng gia đình, trong đó là sự biến đổi về các hoạt động sản xuất và biến đổi các hoạt động tiêu dùng của ngƣời nông dân trên địa bàn đƣợc đầu tƣ phát triển khu công nghiệp. Cơ sở lý thuyết Để thực hiện luận văn này, chúng tôi đã tham khảo và vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin về thuyết duy vật biện chứng, phƣơng pháp duy vật biện chứng coi một sự vật hay một hiện tƣợng trong trạng thái luôn phát triển và xem xét nó trong mối quan hệ với các sự vật và hiện tƣợng khác. Đồng thời, tiếp thu quan điểm, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về vấn đề gia đình, hoạt động kinh tế của gia đình.
Thuyết chức năng: Trƣờng phái Chức năng do Bronislaw Malinowski (1884-1942) đặt nền tảng cho ngành Nhân học ở Anh. Ông là ngƣời đầu tiên tập trung vào nghiên cứu việc các nền văn hóa đƣơng đại vận hành nhƣ thế nào. Theo quan điểm của ông, văn hóa là phƣơng tiện để thỏa mãn các nhu cầu của các cá nhân riêng biệt và cộng đồng nói chung. Do đó, mọi vật thể văn hóa (hữu hình hay vô hình) đều có ý nghĩa và chức năng cụ thể nhằm phục vụ cho các cá nhân riêng lẻ hay xã hội nói chung.
Công việc của các nhà nhân học, theo ông là “hòa nhập” vào nền văn hóa đó, bao gồm cả việc học bản ngữ, để khám phá các chức năng đó. Đó là lý do mà cách tiếp cận của ông đƣợc đặt tên là trƣờng phái Chức năng [33].Radchiffe Brown, khi tìm hiểu các nền văn hóa khác nhau, xem xét các nhân tố văn hóa hoạt động với nhau nhƣ thế nào để đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội. Nhà nhân học nghiên cứu chức năng của văn hóa cần phải nghiên cứu văn hóa của họ từ bên trong, có ý thức đối với giá trị của các nền văn hóa khác. Chính vì vậy, thuyết chức năng có ý nghĩa nhân học ở chỗ, bất cứ văn hóa nào cũng đƣợc các nhà khoa học nghiên cứu dƣới cái nhìn hiện thực các chức năng khác nhau.
Xét theo quan điểm tiếp cận chức năng - cấu trúc thì coi gia đình là một thành phần trong cấu trúc của xã hội, thực hiện những chức năng cơ bản của xã hội, đáp ứng nhu cầu của các thành viên gia đình và góp phần ổn định xã hội. Chức năng cơ bản của gia đình đƣợc phân tích ở các khía cạnh: chức năng tái sinh sản, chức năng kinh tế, chức năng giáo dục, chức năng tâm lý, tình cảm…Trong suốt những năm 50 và đầu những năm 60, gia đình đƣợc coi là một thiết chế phổ quát vì nó thực hiện các chức năng bảo đảm cho sự tồn tại của xã hội loài ngƣời [36].Goode (1982) cho rằng: Nếu gia đình không thực hiện đầy đủ các chức năng của nó thì những mục tiêu rộng lớn của xã hội cũng sẽ không đạt đƣợc. Khi cấu trúc gia đình thay đổi thì mô hình gia đình cũng biến đổi phù hợp để đáp ứng các nhu cầu xã hội [47, tr. Dƣới tác động của công nghiệp hóa, cấu trúc gia đình thay đổi và chức năng gia đình ngày càng bị thu hẹp lại.