mở đầu công việc xây dựng dat nước bước vào quy mô lớn, đặt nền tảng vững chắc và toàn điện cho sự phát triển của dân tộc và của quốc gia phong iến độc lập". Dip đê trị thủy đã trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của quốc gia không thể phó mặc cho sự tự phát cửa dân chúng. Đến năm 1077 triều đình đứng. a chủ trương đắp những con đê quy mô lớn.
Theo Việt sử lược, thì năm ấy nhà Lý cho đắp dé sông Như Nguyệt (Sông Cau) dài 67.380 bộ (khoảng 30 km), Sang đến đời Trần đã cho đắp thêm theo từng tuyển sông chính từ đầu nguồn ra đến biển, tôn cao đắp to những đoạn đã có, đắp thêm những đoạn nỗi, cải tạo một số tuyến vòng vẻo bat hợp lý. VỀ cơ bản những tuyến đê đó gần giống như ngày nay, nhất là tuyến dé sông Hồng va sông Cau. Về kỹ thuật.đê thời kỳ này là bước một bước nhảy vot, tạo nên thé nước chảy thuận hơn mặt khác cũng phải có những tiến bộ kỹ thuật nhất định mới có thể xác định được. tuyển dé, chiều cao dé từng đoạn cho phủ hợp với đường mặt nước lồ.
Ngoài việc dap dé nhà Trần còn rất coi trọng công tác hộ đê phòng lụt, đặt thành trách nhiệm cho chính quyển các cấp. "Năm nao cũng vay, vào thắng sáu, thắng bảy (mùa lũ) các viên để sứ phải thân đi tuần hành, thấy chỗ nảo non phải tu bé ngay, hé biếng nhac không làm tròn phận sự để đến nỗi trôi dân cư, ngập lúa mạ, sẽ tủy t Hinh 1.8 Một cảnh đắp dé thời Trần “Các triều đại phong kiến sau này dựa vào đó mà tiếp tục phát triển hệ thống để fu đã có và phát triển tếp lên. Theo sách Đại Nam thực lục thi dưới triều Nguyễn năm đó vua còn cho đắp bảy đoạn đê mới ở Bắc Bộ. Đến tháng 9 năm 1809, triều Nguyễn đã ban hành điều lệ về đê điều ở Bắc Bộ với các quy định rat chặt chẽ về việc kiểm tra, phòng chống lũ và gia cố hệ thống dé điều hàng năm.
“Thời kỳ Pháp thuộc, với tư cách là người thống trị, thực dân Pháp nhận thức ngay được tim quan trong và kinh tế chính trị Bắc Kỷ. Vì vậy ngay từ những ngày đầu thiết lập nên đô hộ, chính quyền Pháp cũng rất chú trọng đến tình hình đê điều va trị thuỷ của Việt Nam. Trong quá trình cai trị của mình. chính quyền Pháp đã gặp phải không ít những thiệt hai do thiên tai, lũ lụt gây ra, đặc biệt nghiêm trọng như trận lũ lịch sử năm 1915 gây thiệt hại rất nghiêm trọng về người và nhà cửa.
Sau trận lụt lịch sử đó, trước áp lực của dư luận, chính quyền thực dân mới nghiên cứu thực hiện một kế hoạch dip đê Bắc bộ tương đổi quy mô, trong đó có nhiều biện pháp mà ngày nay chúng ta vẫn còn nhắc tới như; Tái sinh rừng thượng nguồn đẻ chậm lũ; xây dựng hỗ chứa ở thượng nguồn dé cắt lũ; dap đê cao hơn mức lũ đặc biệt; củng cô dé hiện tại và tôn cao đến mức an toàn tuyệt đối. Hệ thống dé điều Việt Nam hiện nay có khoảng hơn 8.000 km là dé sông, còn lại là dé biển với khối lượng đất ước tính là 520 triệu mã. Sự hình thành hệ thống dé thể hiện sự đóng góp, cổ gắng của nhân dân trong suốt nhiều thể kỹ qua. Mặc dù tại một số nơi đê còn chưa đảm bảo tính ồn định cao đối với lũ lớn tuy vậy vai trò bảo vệ của các tuyến dé sông hay hệ thông đê biển là rat to lớn và không thé phú định.
Hang năm, hệ thống đê này đều được đầu tư củng cố, nâng cấp, đặc biệt là đối với dé sông sau khi xảy ra lũ lớn đã từng bước cũng cổ vững chắc đáp ứng được yêu cầu chống lũ đặt ra của từng thời kỳ. Hệ thống đê sông Việt Nam Đề sông của Việt Nam không nối liễn nhau mà tạo thành diy theo hệ thống các con sông. Hệ thống dé ở đồng bằng sông Hồng bao gồm hệ thống dé sông Hồng và hệ thống đê sông Thái Bình, đây là hệ thống dé sông có quy mô lớn nhất nước ta với tổng chiều dài khoảng 2. chiểu cao phổ bi + 8 mét, có nơi cao tới 11 mét.
Trong đó dé thuộc hệ thống sông Hồng bao gồm 18 tuyển với tổng chiều dài khoảng 1.314 km doc theo các sông: Da, Thao, Lô, Phó Day, Hi 1g. Dudng, Luộc, Tra Lý, Đào, ‘Ninh Cơ và sông Day. Dé thuộc hệ thống sông Thái Binh bao gồm 27 tuyến với tông chiều dài khoảng 698 km dọc theo các sông: Công, Cầu, Thương, Lục Nam, Thái Bình, Kinh Thay, Lai Vụ, Cả Lỗ, Văn Úc, Lach Tray, Hóa, Cấm, Bach Đằng, Tam Bạc, Nam, Đá Bạch và sông Chanh. Các tuyển đê ở các tinh miễn Trung bao gồm tu n để thuộc hệ thống sông Mã và sông Cả đây là hai hệ thông sông lớn ở Bắc Trung Bộ.
Hệ thong di sông Mã, sông Cả có tổng chiều dai là 381,47km, trong đó chiều dài dé thuộc hệ thống sông Mã, sông Chu là 316,1km; Chiều dai đê thuộc hệ thống. sông Cả, sông La là 65,4km. Thượng nguồn của hai hệ thống sông nây chưa có hồ chứa dé tham gia điều tiết li, vì vậy đê vẫn là biện pháp công trình duy. nhất và có ý nghĩa đặc biệt quan trong trong chống lũ.
Hiện tại tuyển dé thud hai hệ thống sông này chỉ còn khoảng 31 km dé thấp so với thiết kế, khoảng 164km có mặt cắt đê nhỏ, mái đốc chưa có cơ, thân đê còn nhiều khuyết tật, nên dé nhiều đoạn là nén cát hoặc bùn; lòng sông có độ dốc lớn và diễn biển rit phức tạp, nhiều đoạn dé sắt sông. G miền Nam hệ thống dé điều chủ yêu là đê bién và dé cửa sông, dé sông ở miễn Nam có kết cấu đơn giản, chủ yếu là dé bao, dé bối ngăn mặn. Hệ thống đê biển Việt Nam Trải qua thời gian dai xây dựng và phát triển nước ta hiện nay đã có. khoảng 2700 Km đê iến, dé cửa sông trải khắp từ Quảng Ninh đến Kiên Giang.
Dé biển của ta không liền tuyến mà bị ngăn cách nhiều đoạn bởi 114. cửa sông lớn nhỏ khác nhau. Chính vi vậy ma tổng chiều dài dé cửa sông xắp xi bằng dé trực tiếp biển. Trong tổng số 117 huyện ven biển thi có 105 huyện có dé biển.
Tổng chiều dài kẻ biên là 364km và số cổng dưới dé biển là 1. Doc ven biển Việt Nam có rit nhiễu đảo và quần đảo trong đó có 120 đảo lớn. Hầu hết các tuyến đê biển hiện nay có nhiệm vụ bảo vệ sản xuất nông. O đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hoá vùng có đê biên bảo vệ sản xuất 3 vụ, còn đối với các tỉnh miền Trung, Nam Bộ sản xuất 2 vụ, có nơi 3 vụ.
Có khoảng 300 km dé biển để nuôi trồng thủy sản được phát triển mạnh những năm gần đây. Theo số liệu thống kê, hiện nay ở nước ta có khoảng 2700Km. đê biển, dé cửa sông chia làm 3 vùng: Bắc Bộ (từ Quảng Ninh đến Hậu Lộc - “Thanh Hóa), Trung Bộ (Nam Thanh Hóa đến Bình Thuận) và Nam Bộ (từ Bà Rịa-Vũng Tàu đến Kiên Giang). Những tồn tại của hệ thống đê điều Việt Nam hi nay 1.
Một số hư hỏng thường gặp 1. Hư hồng mái đê Tai những vị trí có dòng sông cong, sóng vỗ trực tiếp vào mái đê hoặc khi có tổ hợp lũ bão, nước lên cao ngâm lâu, thắm vào thân đề, khi nước rút kéo theo đất trong thân và chân đê ra ngoài gây mắt ôn định thân đê dẫn đến hiện tượng sat, 16, x6i cục bộ mái đê hoặc mạch đùn, mach sii sa. >> Trượi vòng cương mái dé phía song b. Trượt mái dé phía đồng, e Aói lở cục bộ mái dé phía sông 4L Trượt mái dé phía sông e.Cung trượt mái dé khi nước sông rút £ Mach đùa Hình 1.9 Một số dạng sat lớ mái dé Tình 1.10 Một sé hình ảnh sat lở mái đề thực tế 1.2, Hw hong mặt đê Khi trên mat dé thường xuyên chịu tải trọng lớn sẽ gây mắt ôn định cục.
bộ gây lên hiện tượng lún, sụt, bong vỡ mặt đê. Tiện tượng này thường xảy ra tại những nơi có các phương tiện tả trọng a. Liin, sut mặt dé b. Bong vỡ mặt dé Hình 1.11 Một số hình ảnh lún, sut, bong vỡ mặt dé thực tế 1.
Nguyên nhân hư hồng. Nguyên nhân chủ quan ‘Than đê thường được hình thành tir lâu đời, trải qua nhiều lần tu bổ, chất đắp đê không đồng nhất, nhiễu v tr đi qua khu lãng cỗ có dân cư inh sống. nên khi có lũ cao ngâm lâu và gặp tổ hợp có gió bão lớn sẽ không tránh khỏi xây ra sự cổ ở một số vị trí. * Vật liệu đắp dé Hiện nay khi tu bổ, đắp mở rộng, tôn cao, áp trúc mái đê thường được.
đắp bằng vật liệu tại chỗ, cha yếu là đất thịt pha cát, pha sết. nên khi bé mặt và mái không được bảo vệ dễ bị xói mòn hoặc sat lở do tác động của nước mưa, nước mat và sống. Nguyên nhân khách quan * Sóng và gió Sóng là tác nhân chính gây ra sự mắt ôn định và sự sat lở bờ sông, bờ: biển đồng thời cũng là nguyên nhân chính sinh ra đồng ven bờ vận chuyên bùn cát gây sói lở, sat trượt bờ sông, bờ biển. Gió là sản phẩm của các quá trình khí tượng.
Gió thôi trên mặt sông tạo ra sóng va nước dang. * Bio Bão là trạng thái nhiễu động của khí quyển và là một loại hình thời tiết ‘cue đoan. Khi có bão xuất hiện thường kéo theo I loạt hiện tượng thời tiết bắt lợi như mưa to, gió lớn, gidng, lốc xoáy. * Dang chảy Các hiện tượng sat lở, bồi lắng thường xảy ra ở những đoạn sông cong, các cửa phân lưu, nhập lưu, các cửa sông phân lạch, nơi giao thoa giữa dòng, chảy trong sông và dòng triều.
là những nơi dòng chảy không én định. Phía bờ lõm do dòng chảy chủ lưu áp sát bo, khi vận tốc dòng chảy lớn hơn vận tốc khởi động của đất cấu tạo bờ sông sẽ gây sạt lở, phạm vi sạt lở thường. phát triển từ thượng lưu về hạ lưu. Ngoài ra, sat lở cũng có thể xuất hiện đọc theo bờ của một con sông trong trạng thái cân bằng động.
* Nạn chat phá rừng, khai thác tai nguyên vùng đầu nguồn. Lam suy giảm ting phủ thực vật, mắt khả năng điều tiết của rừng nên về mùa mưa nước lũ tập trung nhanh hơn làm gia tăng lưu tốc dong chảy, biên độ và cường suất lũ. * Do phát triển các hoạt động dân sinh ra vùng ven sông.