Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học: "Nguồn lực văn hóa với sự phát triển kinh tế ở Hà Nội (qua nghiên cứu tại làng Bát Tràng, huyện Gia Lâm và làng Mông Phụ, thị xã Sơn Tây)" do nghiên cứu sinh công tác tại Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Hà Nội thực hiện.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Bối cảnh phát triển hiện đại ghi nhận sự chuyển dịch mô hình phát triển từ việc lấy vật chất, kinh tế làm trung tâm sang mô hình lấy con người làm trung tâm. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) trong Thập kỷ quốc tế văn hóa vì phát triển đã khẳng định nếu tách rời môi trường văn hóa thì tăng trưởng kinh tế sẽ mất cân đối và làm suy yếu tiềm năng sáng tạo. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội từ lần thứ VII đến lần thứ XII, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Tại Thủ đô Hà Nội, Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XVI Đảng bộ Thành phố xác định nhiệm vụ phát triển công nghiệp văn hóa, gắn bảo tồn di sản với phát triển kinh tế và du lịch. Mặc dù nguồn lực văn hóa của Hà Nội phong phú, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận dưới góc độ Sử học, Dân tộc học hoặc Văn hóa dân gian mang tính khảo tả, miêu thuật di sản. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: tiếp cận dưới góc độ Văn hóa học để phân tích nguồn lực văn hóa như một nguồn lực nội sinh và làm rõ vai trò tác động thực tế của nó đối với sự phát triển kinh tế tại cấp độ làng xã và thành phố.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là làm rõ khái niệm nguồn lực văn hóa và nghiên cứu việc phát huy nguồn lực này đối với sự phát triển kinh tế của làng Bát Tràng (huyện Gia Lâm) và làng Mông Phụ (thị xã Sơn Tây), qua đó chỉ ra vai trò của nguồn lực văn hóa đối với sự phát triển kinh tế ở Hà Nội hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành ba nội dung chính:
- Phân tích các vấn đề lý luận liên quan để xác định khái niệm, các yếu tố cấu thành, đặc trưng và tính chất của nguồn lực văn hóa.
- Làm rõ các nguồn lực văn hóa và vai trò của nguồn lực văn hóa đối với sự phát triển kinh tế ở Hà Nội thông qua việc khảo sát tại làng Bát Tràng và làng Mông Phụ.
- Chỉ ra các vấn đề đặt ra cần giải quyết nhằm phát huy hiệu quả nguồn lực văn hóa trong phát triển kinh tế tại Hà Nội.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của nguồn lực văn hóa đối với sự phát triển kinh tế ở Hà Nội thông qua việc khai thác, phát huy nguồn lực văn hóa tại hai địa bàn làng Bát Tràng và làng Mông Phụ.
- Phạm vi không gian: Không gian thành phố Hà Nội, tập trung khảo sát chuyên sâu tại hai địa bàn tiêu biểu: làng nghề gốm sứ Bát Tràng (huyện Gia Lâm) và làng cổ Mông Phụ (xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây).
- Phạm vi thời gian: Tập trung đánh giá thực trạng việc phát huy nguồn lực văn hóa trong giai đoạn đổi mới từ năm 1986 đến thời điểm thực hiện luận án.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật các tài liệu nghiên cứu liên quan theo bốn nhóm nội dung chính:
Quan hệ giữa văn hóa và kinh tế
- Quan điểm mác-xít: Dựa trên quan điểm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen (trong các thư gửi Blôkhơ ngày 24/4/1890 và thư gửi Boocgiusơ ngày 25/1/1894), khẳng định cơ sở kinh tế xét đến cùng quyết định lịch sử nhưng các yếu tố tinh thần, chính trị, văn hóa luôn tác động qua lại đối với cơ sở kinh tế.
- Quan điểm quốc tế: Các trao đổi của Câu lạc bộ Rôma; tác phẩm "Vì sao Nhật Bản đã thành công" của Michio Morishima về sự kết hợp giữa kỹ thuật phương Tây và tinh thần Nhật Bản; quan điểm của Alain Peyrefitte về "yếu tố thứ ba phi vật chất"; nhận định của Federico Mayor (Tổng Giám đốc UNESCO); phát biểu của Thủ tướng Singapore Goh Chok Tong (1994) về các yếu tố phi kinh tế.
- Quan điểm tại Việt Nam: Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa VIII (1991); công trình của Phạm Xuân Nam về triết lý quan hệ giữa cái kinh tế và cái xã hội; Đề tài cấp Nhà nước do Lê Quang Thiêm chủ nhiệm về yếu tố văn hóa trong phát triển xã hội; công trình do Nguyễn Văn Huyên chủ biên về văn hóa là mục tiêu và động lực phát triển.
Lý luận về nguồn lực văn hóa, vốn văn hóa và vốn xã hội
- Tiếp cận quốc tế: Pierre Bourdieu (1986, tác phẩm "The Forms of Capital") đưa khái niệm vốn văn hóa vào phân tích xã hội học và khả năng chuyển hóa giữa vốn văn hóa, vốn xã hội và vốn kinh tế; các học giả James Coleman, Robert Putnam, Francis Fukuyama tiếp cận vốn xã hội dưới góc độ mạng lưới, chuẩn mực, niềm tin và thể chế tạo sự liên kết cộng đồng; tuyên bố của Liên Hợp Quốc tại lễ phát động Thập kỷ thế giới vì phát triển (1988).
- Tiếp cận trong nước: Đề tài KX 06-14 do Đặng Cảnh Khanh chủ nhiệm thuộc Chương trình KX 06 về các nhân tố phi kinh tế; các công trình của Hoàng Vinh (2004, 2006) về di sản và hệ giá trị văn hóa như nguồn lực phi vật thể; công trình của Lê Quý Đức (2012) trực tiếp định nghĩa và phân tích nguồn lực văn hóa; các nghiên cứu tiếp cận vốn văn hóa và vốn xã hội của Trần Hữu Dũng (2003), Trần Hữu Quang (2006), Lê Minh Tiến (2007), Hoàng Bá Thịnh (2009), Lương Văn Hy (2010), Nguyễn Anh Tuấn (2011), Khúc Thị Thanh Vân (2012), Phạm Như Hổ (2013).
Tài liệu về nguồn lực văn hóa Hà Nội
Thống kê của tác giả ghi nhận khoảng 750 tài liệu (gồm 460 tài liệu tiếng Việt, 192 tiếng Pháp, 66 tiếng Anh cùng các tài liệu chữ Hán, Nôm, Nhật Bản). Tiêu biểu là Bộ sách 11 tập của Chương trình KX.09 Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội (khoảng 4000 trang), Bách khoa thư Hà Nội 17 tập (khoảng 5000 trang), Tuyển tập tư liệu phương Tây (1169 trang), "1000 Thăng Long - Hà Nội" của Nguyễn Vinh Phúc (1193 trang). Báo cáo điều tra xã hội học của đề tài KX.12 do Phùng Hữu Phú chủ biên đánh giá các nguồn lực của Thủ đô; số liệu kiểm kê di tích của Hà Nội với 5.175 di tích (2.311 di tích đã xếp hạng).
Tài liệu về làng Bát Tràng và làng Mông Phụ
- Về làng Bát Tràng: Thư tịch cổ (Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Việt thông sử, Thượng Kinh ký sự, Dư địa chí, Lịch triều hiến chương loại chí, Bắc Ninh địa dư chí); tác phẩm của Madrolle thời Pháp thuộc; bản thảo viết tay "Đời tôi" của Vũ Văn Giần (1902-1977); nghiên cứu điền dã của Phan Hữu Dật (1977); sách "Quê gốm Bát Tràng" của Đỗ Thị Hảo (1989) và bài viết chung với Trần Quốc Vượng (2000); công trình "Gốm Bát Tràng thế kỷ XIV - XIX" của Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến, Nguyễn Quang Ngọc (1995); đề tài của Trịnh Thị Ngọc Lan (2008); các công trình khảo cổ học của Nguyễn Đình Chiến (1999); sách "Các làng khoa bảng Thăng Long - Hà Nội" của Bùi Xuân Đính và Nguyễn Viết Chức (2004, 2010); bài viết của Văn Sáu (2010), Đỗ Thị Hảo (2011) và công trình tổng hợp "Bát Tràng làng nghề, làng văn" do Bùi Xuân Đính chủ biên (2013).
- Về làng Mông Phụ (Đường Lâm): "Địa chí Sơn Tây" của Phạm Xuân Độ; các dự án và đề án bảo tồn của Viện Nghiên cứu Kiến trúc quốc gia, Viện Bảo tồn di tích, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội; dự án hợp tác quốc tế của Cục Tài sản văn hóa Nhật Bản, Trường Đại học Nữ Chiêu Hòa và JICA; công trình nghiên cứu "Mông Phụ - Một làng ở đồng bằng sông Hồng" do Nguyễn Tùng chủ biên hợp tác giữa Viện Dân tộc học và LASEMA; nghiên cứu của Diệp Đình Hoa, Ngô Xuân Linh; khảo sát nhà gỗ cổ của Nguyễn Thị Phương Chi; nghiên cứu văn bia của Ngô Vũ Hải Hằng, Nguyễn Minh Tường, Vũ Duy Mền; đề tài khoa học cấp tỉnh của Sở Du lịch Hà Tây (2007); luận án tiến sĩ của Đào Duy Tuấn.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Các công trình trên phần lớn khảo sát di sản dưới góc nhìn chuyên ngành riêng biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể nguồn lực văn hóa của Hà Nội cũng như tại hai làng Bát Tràng và Mông Phụ dưới góc độ chuyên ngành Văn hóa học để chỉ rõ cơ chế chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành sức mạnh phát triển kinh tế cụ thể.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Cơ sở phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, giữa kinh tế và văn hóa; quan điểm chỉ đạo trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Khái niệm nguồn lực văn hóa: Tổng thể các yếu tố văn hóa tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới các hoạt động kinh tế - xã hội; là sức mạnh vừa hữu hình vừa vô hình thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững theo hướng nhân văn.
- Cơ cấu ba thành tố của nguồn lực văn hóa:
- Nguồn lực nội thể hóa (nguồn lực con người): Trình độ học vấn, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, đạo đức, năng lực sáng tạo của chủ thể mang vác văn hóa.
- Nguồn lực thể chế hóa (quan hệ xã hội - văn hóa): Hệ thống luật pháp, hương ước, quy ước, chuẩn mực đạo đức, niềm tin, mạng lưới quan hệ xã hội tạo lập môi trường văn hóa cho kinh tế vận hành.
- Nguồn lực vật thể hóa (các sản phẩm văn hóa): Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, sản phẩm thủ công, lễ hội, nghệ thuật, tri thức và công nghệ sản xuất truyền thống.
- Đặc trưng của nguồn lực văn hóa:
- Nguồn lực văn hóa suy cho cùng là nguồn lực con người, phản ánh năng lực bản chất người.
- Các nguồn lực văn hóa có khả năng chuyển hóa lẫn nhau và chuyển hóa thành nguồn lực kinh tế (và ngược lại).
- Nguồn lực văn hóa tác động trực tiếp (cung cấp dịch vụ hưởng thụ ngay) hoặc gián tiếp (làm nguyên liệu, chất xúc tác cho sản xuất) vào nền kinh tế.
- Lý thuyết "Điểm sáng" hay "Gương sáng" (Positive Deviance - PD): Do Giáo sư Marian Zeitlin (Đại học Tufts, Hoa Kỳ) xây dựng từ thập niên 1980, gồm quy trình 6 bước: (1) Xác định vấn đề; (2) Xác định sự tồn tại của cá thể/nhóm PD; (3) Phát hiện hành vi khác biệt; (4) Thiết kế chương trình; (5) Điều khiển và đánh giá; (6) Mở rộng. Luận án vận dụng lý thuyết này để xem Bát Tràng và Mông Phụ là hai "điểm sáng" tự thân phát huy nội lực văn hóa thành công để nhân rộng bài học kinh nghiệm.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp liên ngành trong Văn hóa học: Sử dụng các khái niệm, công cụ phân tích từ kinh tế học, xã hội học, sử học và nhân học để khảo sát đối tượng liên ngành.
- Phương pháp điền dã Dân tộc học: Quan sát và tham dự trực tiếp vào đời sống sinh hoạt, quá trình sản xuất gốm sứ và cung ứng dịch vụ du lịch của người dân tại hai địa bàn.
- Phương pháp Xã hội học: Thu thập thông tin định tính và định lượng qua bảng hỏi, phỏng vấn sâu cá nhân và thảo luận nhóm với các nghệ nhân, hộ kinh doanh, người làm dịch vụ, cán bộ quản lý văn hóa và kinh tế.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Xử lý các tài liệu thứ cấp, văn bản lưu trữ, báo cáo thống kê kết hợp với dữ liệu khảo sát điền dã thực tế.
Nguồn dữ liệu nghiên cứu
Tư liệu khảo sát điền dã trực tiếp, bảng hỏi điều tra xã hội học, các văn bia Hán Nôm tại địa phương, tài liệu thư tịch cổ, các báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ của Ủy ban nhân dân xã Bát Tràng và Ủy ban nhân dân xã Đường Lâm, số liệu thống kê ngành văn hóa và du lịch thành phố Hà Nội.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, những vấn đề lý luận và khái quát về địa bàn nghiên cứu
Chương này gồm 47 trang, thực hiện ba nội dung: tổng quan tình hình nghiên cứu lý luận và thực tiễn; xác lập khung lý luận về khái niệm, cơ cấu (ba thành tố) và ba đặc trưng của nguồn lực văn hóa, đồng thời luận giải việc vận dụng lý thuyết "điểm sáng" của Marian Zeitlin; khái quát điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa và kinh tế - xã hội của hai địa bàn khảo sát.
| Tiêu chí so sánh |
Làng Bát Tràng (Gia Lâm) |
Làng Mông Phụ (Đường Lâm, Sơn Tây) |
| Vị trí địa lý |
Tả ngạn sông Hồng, cách trung tâm Hà Nội 10 km |
Vùng bán sơn địa xứ Đoài, cách trung tâm Hà Nội 45 km |
| Quỹ đất & không gian |
Không có đất nông nghiệp, diện tích ở bình quân 200 m²/hộ, nhà sát nhà |
Nằm trên đồi hình bát úp, ba mặt sông bao bọc, cảnh quan làng quê nông nghiệp |
| Hình thái cư trú |
Năm 2005 có 30,5% nhà cao tầng, năm 2009 đạt 79%; diện mạo giống phố nghề |
Lưu giữ quần thể nhà gỗ cổ trên 100 tuổi, cổng làng, đường gạch, rặng ruối cổ |
| Cơ cấu kinh tế chính |
Chuyên canh thủ công nghiệp gốm sứ, thương mại, dịch vụ du lịch |
Nông nghiệp chiếm 70% số hộ (lúa, ngô, đỗ); nghề phụ: làm tương, mộc, đá ong, du lịch |
| Di sản văn hóa tiêu biểu |
Lò gốm truyền thống, Bạch Thổ Phường, 8 tiến sĩ khoa bảng, đình Bát Tràng, chùa Kim Trúc |
Đình Mông Phụ, chùa Mía, 21 văn bia cổ, hệ thống nhà gỗ đá ong, di tích "Một ấp hai vua" |
| Đổi mới công nghệ |
Chuyển đổi từ lò than/lò hộp sang lò ga, giảm thiểu ô nhiễm khói bụi |
Bảo tồn công nghệ thủ công truyền thống (ủ tương chum sành, đục đẽo đá ong) |
Chương 2: Nhận diện tác động của nguồn lực văn hóa với sự phát triển kinh tế của làng Bát Tràng và làng Mông Phụ
Chương này gồm 64 trang, phân tích cụ thể phương thức vận hành và mức độ đóng góp của nguồn lực văn hóa vào sự chuyển dịch kinh tế ở từng làng:
-
Nguồn lực văn hóa với phát triển kinh tế ở làng Bát Tràng:
- Nguồn lực con người được phát huy qua tay nghề của đội ngũ thợ thủ công, nghệ nhân gốm sứ và truyền thống hiếu học của làng khoa bảng.
- Nguồn lực vật thể hóa biểu hiện ở các dòng sản phẩm gốm men truyền thống được cải tiến kỹ thuật, gắn kết với việc hình thành chợ gốm Bát Tràng thành trung tâm mua sắm và tham quan.
- Nguồn lực thể chế hóa thể hiện qua sự đồng thuận dòng họ, hiệp hội nghề nghiệp (Hội Gốm sứ Bát Tràng), giúp điều phối hoạt động sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Kinh tế phát triển tạo nguồn kinh phí tái đầu tư tu bổ đình, chùa, văn từ và nâng cấp hạ tầng đường làng, cống rãnh.
-
Nguồn lực văn hóa với phát triển kinh tế ở làng Mông Phụ:
- Nguồn lực vật thể hóa là không gian làng cổ, kiến trúc đình Mông Phụ, các ngôi nhà gỗ cổ niên đại trên 100 năm xây bằng đá ong và hệ thống di tích danh nhân lịch sử (Phùng Hưng, Ngô Quyền, Giang Văn Minh).
- Nguồn lực văn hóa ẩm thực và tri thức dân gian về nghề làm tương truyền thống được khai thác thành sản phẩm phục vụ du khách.
- Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch (homestay, ẩm thực dân dã, hướng dẫn tham quan) tạo nguồn thu nhập bổ trợ ngoài sản xuất nông nghiệp thuần túy.
-
Đánh giá chung: Cả hai làng đều chuyển hóa hiệu quả các thành tố văn hóa thành giá trị kinh tế theo hai mô hình khác nhau: Bát Tràng là mô hình sản xuất hàng hóa thủ công nghiệp kết hợp thương mại du lịch ven đô; Mông Phụ là mô hình khai thác giá trị di sản cảnh quan và kiến trúc phục vụ du lịch sinh thái - nhân văn nông thôn.
Chương 3: Những vấn đề đặt ra đối với việc phát huy các nguồn lực văn hóa trong phát triển kinh tế của làng Bát Tràng và làng Mông Phụ hiện nay
Chương này gồm 38 trang, tổng hợp các vấn đề thực tiễn và định hướng giải pháp:
- Vai trò của nguồn lực văn hóa đối với sự phát triển kinh tế ở Hà Nội: Khẳng định nguồn lực văn hóa là lợi thế so sánh quan trọng của Thủ đô, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế tri thức, phát triển du lịch dịch vụ và xây dựng hình ảnh đô thị văn hiến.
- Những vấn đề đặt ra (bất cập và mâu thuẫn):
- Mâu thuẫn giữa bảo tồn di sản và phát triển kinh tế: Tại Bát Tràng, tốc độ đô thị hóa và xây dựng nhà cao tầng làm biến dạng không gian cư trú truyền thống, nguy cơ ô nhiễm môi trường do chất thải sản xuất; tại Mông Phụ, quy định bảo tồn nghiêm ngặt không gian nhà cổ mâu thuẫn với nhu cầu gia tăng diện tích sinh hoạt của các thế hệ dân cư.
- Bất cập về thể chế và quản lý: Cơ chế chia sẻ lợi ích kinh tế từ hoạt động du lịch cho cộng đồng dân cư chưa đồng bộ; tình trạng thương mại hóa tự phát có nguy cơ làm suy giảm tính xác thực của di sản; việc liên kết chuỗi giá trị giữa bảo tồn, sản xuất và quảng bá thương hiệu còn lỏng lẻo.
- Bàn luận về các vấn đề cần giải quyết: Đề xuất cơ chế điều tiết lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân tộc học/cư dân bản địa; hoàn thiện quy hoạch bảo tồn gắn liền với nâng cao mức sống nhân dân; thúc đẩy ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường trong sản xuất làng nghề.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa các quan niệm về nguồn vốn và nguồn lực văn hóa trong và ngoài nước; xác lập định nghĩa tổng quát về nguồn lực văn hóa dưới góc độ chuyên ngành Văn hóa học.
- Phân định rõ cơ cấu ba thành tố của nguồn lực văn hóa (nguồn lực nội thể hóa, nguồn lực thể chế hóa, nguồn lực vật thể hóa) cùng các đặc trưng chuyển hóa qua lại giữa văn hóa và kinh tế.
- Ứng dụng lý thuyết "điểm sáng" (Positive Deviance) vào nghiên cứu văn hóa, chứng minh tính khả thi của việc dựa vào nội lực cộng đồng để phát triển kinh tế mà không phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn lực bên ngoài.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Khảo sát và cung cấp bức tranh thực trạng về phương thức khai thác nguồn lực văn hóa tại hai loại hình tiêu biểu của Hà Nội: làng nghề thủ công mỹ nghệ ven đô (Bát Tràng) và làng cổ nông nghiệp ngoại thành (Mông Phụ).
- Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực tế giúp các cơ quan quản lý văn hóa, lãnh đạo thành phố Hà Nội hoạch định chính sách kinh tế - xã hội, phát huy thế mạnh văn hóa Thủ đô.
- Đưa ra các chỉ báo thực tiễn giúp cộng đồng cư dân các làng nghề, làng cổ nhận thức rõ giá trị của các di sản văn hóa truyền thống, từ đó chủ động tìm kiếm các mô hình phát triển sinh kế phù hợp.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Xây dựng quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát triển làng nghề, làng cổ gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và cảnh quan kiến trúc.
- Hoàn thiện thể chế quản lý văn hóa, thiết lập cơ chế điều tiết và chia sẻ lợi ích công bằng giữa đơn vị khai thác du lịch và người dân địa phương.
- Đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông, thông tin liên lạc và hệ thống xử lý chất thải tại các điểm du lịch làng nghề.
- Đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bồi dưỡng kỹ năng kinh doanh, kỹ năng làm du lịch cộng đồng và bảo tồn tri thức dân gian cho nghệ nhân, thợ lành nghề.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung phân tích sâu vào hai trường hợp nghiên cứu điển hình là Bát Tràng và Mông Phụ, chưa có điều kiện mở rộng khảo sát định lượng trên diện rộng đối với toàn bộ hệ thống hơn 1.300 làng nghề và các không gian văn hóa khác trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thực nghiệm ứng dụng khung cơ cấu nguồn lực văn hóa sang các nhóm làng nghề truyền thống khác (như chạm khảm, mây tre đan, dệt lụa) hoặc các không gian văn hóa đô thị trung tâm của Hà Nội; khảo sát chuyên sâu hơn về các cơ chế phát triển ngành công nghiệp văn hóa trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên các ngành Văn hóa học, Xã hội học, Kinh tế phát triển, Nhân học, Quản lý văn hóa; cán bộ nghiên cứu tại các viện nghiên cứu kinh tế - xã hội; các nhà hoạch định chính sách tại Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Du lịch, Ủy ban nhân dân các quận, huyện, thị xã tại Hà Nội và các địa phương có di sản; ban quản lý di tích và đại diện cộng đồng cư dân làng nghề.
- Nội dung tham khảo: Khung phân loại ba thành tố của nguồn lực văn hóa; quy trình vận dụng lý thuyết "điểm sáng" vào giải quyết các vấn đề cộng đồng; hệ thống tư liệu lịch sử, văn bia và dữ liệu khảo sát thực địa chi tiết về hai làng Bát Tràng và Mông Phụ.
Câu hỏi thường gặp
1. Nguồn lực văn hóa được phân chia thành những yếu tố cấu thành nào trong luận án?
Luận án phân chia nguồn lực văn hóa thành ba thành tố: (1) Nguồn lực nội thể hóa (nguồn lực con người với tri thức, kỹ năng, đạo đức, năng lực sáng tạo); (2) Nguồn lực thể chế hóa (các quan hệ xã hội - văn hóa, luật pháp, quy ước, chuẩn mực đạo đức, niềm tin và môi trường văn hóa); (3) Nguồn lực vật thể hóa (sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể như di tích, danh thắng, lễ hội, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, công nghệ truyền thống).
2. Lý thuyết "Điểm sáng" (Positive Deviance) của Marian Zeitlin được ứng dụng như thế nào?
Luận án vận dụng lý thuyết "điểm sáng" để tiếp cận làng Bát Tràng và làng Mông Phụ như hai trường hợp thực hành tích cực điển hình. Thay vì áp đặt giải pháp từ bên ngoài, lý thuyết này giúp phân tích cách thức hai cộng đồng tự nhận diện và tối ưu hóa các nguồn lực văn hóa nội sinh sẵn có của mình để giải quyết bài toán mưu sinh và phát triển kinh tế, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm để nhân rộng cho các địa phương khác tại Hà Nội.
3. Không gian cư trú và kỹ thuật sản xuất của làng Bát Tràng đã có những biến đổi cụ thể nào?
Về không gian cư trú, do không có đất nông nghiệp, diện tích đất bình quân của mỗi hộ gia đình Bát Tràng chỉ khoảng 200 m² dùng cho cả sinh hoạt và sản xuất; tỷ lệ nhà cao tầng tăng nhanh từ 30,5% năm 2005 lên 79% năm 2009. Về kỹ thuật sản xuất, làng đã chuyển đổi mô hình từ sử dụng lò than/lò hộp truyền thống sang lò nung bằng gas, giúp cải thiện hạ tầng đường làng, giảm thiểu khói bụi và nâng cao chất lượng sản phẩm gốm sứ.
4. Cơ cấu kinh tế và các nghề phụ truyền thống tại làng Mông Phụ (Đường Lâm) được ghi nhận ra sao?
Tại làng Mông Phụ, sản xuất nông nghiệp thuần túy (trồng lúa, ngô, đỗ tương, khoai lang và chăn nuôi) vẫn là sinh kế chủ đạo, chiếm khoảng 70% số hộ gia đình. Các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp bao gồm nghề làm tương truyền thống (ủ chum sành), nghề mộc làm sườn nhà cổ, nghề khai thác chế tác đá ong, mây tre đan, buôn bán nhỏ và cung cấp dịch vụ phục vụ khách tham quan du lịch di sản.
5. Số liệu kiểm kê và xếp hạng di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội trong văn bản là bao nhiêu?
Theo số liệu kiểm kê được trích dẫn trong luận án, toàn thành phố Hà Nội có tổng số 5.175 di tích. Trong đó có 2.311 di tích đã được xếp hạng, bao gồm: 09 di tích quốc gia đặc biệt, 1.184 di tích xếp hạng cấp quốc gia (chiếm 51,23% tổng số di tích đã xếp hạng) và 1.118 di tích xếp hạng cấp tỉnh/thành phố (chiếm 48,38% tổng số di tích đã xếp hạng).
Kết luận
Luận án "Nguồn lực văn hóa với sự phát triển kinh tế ở Hà Nội (qua nghiên cứu tại làng Bát Tràng, huyện Gia Lâm và làng Mông Phụ, thị xã Sơn Tây)" đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về nguồn lực văn hóa dưới lăng kính Văn hóa học và vận dụng lý thuyết "điểm sáng" để khảo sát thực tế. Công trình chứng minh rằng các yếu tố văn hóa nội thể hóa, thể chế hóa và vật thể hóa đóng vai trò là động lực kinh tế trực tiếp và gián tiếp đối với sự phát triển của làng nghề thủ công và làng du lịch di sản. Nghiên cứu đồng thời chỉ ra các mâu thuẫn nội tại giữa bảo tồn di tích với đô thị hóa, cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quản lý và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội dựa trên nguồn lực văn hóa tại Thủ đô Hà Nội.