đặt vấn đề nghiên cứu văn hoá (chính xác hơn là các thành tố của văn hoá) như là những nguồn lực để phát triển kinh tế. Ông coi Di sản văn hoá dân tộc là nguồn lực phi 16 vật thể của sự phát triển kinh tế - xã hội hiện thời ở nước ta [bài viết cùng tên in trong cuốn Những vấn đề văn hoá trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội 2006]. Cùng với di sản văn hoá thì Hệ giá trị văn hoá cũng là nguồn lực phi vật thể của sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta (bài viết cùng tên in trong cuốn Văn hoá và Phát triển ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội 2004). Tác giả Lê Qúy Đức được xem là người sử dụng trực tiếp khái niệm “nguồn lực văn hóa” nghiên cứu vai trò của văn hóa với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta.
Trong bài báo “Nguồn lực văn hóa và vai trò của nguồn lực văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội”, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 4 (142) năm 2012, tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về vai trò tác động của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và ở nước ta và đưa ra nhận xét “sự tiếp cận văn hóa như là nguồn vốn - nguồn lực văn hóa của sự phát triển kinh tế - xã hội vẫn còn là mới mẻ”, chưa có một quan niệm thống nhất về khái niệm này. Do vậy, tác giả đã đưa ra một định nghĩa tổng quát về khái niệm “nguồn lực văn hóa có thể được hiểu là tổng thể các yếu tố văn hóa tác động trực tiếp hay gián tiếp tới các hoạt động kinh tế - xã hội. Nguồn lực văn hóa là sức mạnh vừa hữu hình, vừa vô hình, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững theo hướng nhân văn, nhân bản” [67, tr. Ngoài ra còn khá nhiều tác giả khác nghiên cứu vấn đề nguồn lực văn hóa dưới góc độ xã hội học với các tên gọi khác: Trần Hữu Dũng (2003) - vốn văn hóa; Trần Hữu Quang (2006), Lê Minh Tiến (2007), Hoàng Bá Thịnh (2009), Phạm Như Hổ (2013), Lương Văn Hy (2010), Nguyễn Anh Tuấn (2011) và Khúc Thị Thanh Vân (2012).
với tên gọi vốn xã hội đối với sự phát triển kinh tế nói chung hay với sự phát triển của một địa phương, cộng đồng cụ thể. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (1993) nêu rõ: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc 17 đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”. Đây là sự nhận thức sâu sắc của Đảng cộng sản Việt Nam về văn hóa và phát triển, là bước phát triển mới trong quan điểm của Đảng về vai trò to lớn của văn hóa trong phát triển ở nước ta.
Các tài liệu về nguồn lực văn hóa của Hà Nội và của làng Bát Tràng, làng Mông Phụ *Tài liệu về nguồn lực văn hóa của Hà Nội Hơn 1000 năm qua (từ trước khi Thăng Long - Hà Nội ra đời năm 1010 đến nay 2016) đã có hàng ngàn tài liệu nghiên cứu về Thăng Long - Hà Nội nói chung và có gần một ngàn tài liệu nghiên cứu về văn hoá, nguồn lực văn hoá Thăng Long - Hà Nội nói riêng. Theo thống kê chưa thật đầy đủ của NCS, tài liệu nghiên cứu về văn hoá, nguồn lực văn hoá hay có liên quan đến vấn đề văn hoá, nguồn lực văn hoá Thăng Long - Hà Nội rất phong phú và được viết bằng nhiều thứ tiếng (thứ chữ): Chữ Hán, chữ Nôm, chữ quốc ngữ, chữ Pháp, chữ Nhật Bản. Hiện tại tài liệu viết bằng tiếng Việt hay dịch ra tiếng Việt (chữ quốc ngữ) là 460 tài liệu; tiếng Pháp 192 tài liệu, tiếng Anh 66 tài liệu, tổng cộng khoảng 750 tài liệu. Trong đó có những tài liệu dài từ trên một ngàn đến vài ngàn trang như: Tuyển tập tư liệu phương Tây - Nxb Hà Nội 2010 (1169 trang), 1000 Thăng Long - Hà Nội của Nguyễn Vinh Phúc - Nxb Trẻ (1193 trang), Bách khoa thư Hà Nội 17 tập - Nxb Từ điển Bách khoa 1999 (khoảng trên 5000 trang).
Riêng Bộ sách của Chương trình khoa học cấp nhà nước KX.09 về Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, 11 tập - Nxb Hà Nội 2010 (khoảng 4000 trang). Trong đó phần lớn nội dung các tập sách trên đề cập đến văn hóa và nguồn lực văn hóa của Thăng Long - Hà Nội và ít nhiều đề cập đến văn hóa và nguồn lực văn hóa của làng Bát Tràng và làng Mông Phụ. Chẳng hạn các tập từ 6 đến 11 về: Con người, giáo dục và đào tạo, các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể… của Thăng Long - Hà Nội nói chung và các làng xã nói riêng. 18 Vì thời gian làm luận án có hạn không cho phép NCS đọc hết các tài liệu đó để tổng quan đầy đủ được.
Do vậy, cách làm tối ưu của NCS là dựa vào các tài liệu đã tổng hợp các tài liệu nghiên cứu trên và bổ sung thêm những hiểu biết của bản thân để khái quát các vấn đề liên quan đến đề tài luận án. NCS chủ yếu chỉ quan tâm đến những tài liệu nói đến nguồn lực văn hóa của Thăng Long - Hà Nội một cách chung nhất, khái quát nhất còn những tài liệu trình bày cụ thể đã được NCS tổng thuật trong chuyên đề tiến sỹ “Tổng quan tình hình nghiên cứu về văn hóa và nguồn lực văn hóa của Thăng Long - Hà Nội” (dài 52 trang khổ giấy A4) đã được đánh giá riêng. Nói cách khác là trong phần này NCS chỉ tóm lược lại chuyên đề tổng quan tình hình nghiên cứu về nguồn lực văn hóa của Thăng Long - Hà Nội. Theo báo cáo điều tra xã hội học của đề tài KX.12 người dân Hà Nội đánh giá các lợi thế của Thủ đô (xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp) là: tiềm lực kinh tế, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, nguồn lực văn hóa.
Về tiềm lực kinh tế, nổi trội là nguồn nhân lực có trình độ cao, thị trường, vốn đầu tư nước ngoài, khoa học - công nghệ tiên tiến, cơ sở hạ tầng và hệ thống thông tin liên lạc. Về vị trí địa lý, tự nhiên, quan trọng nhất là địa bàn trung tâm, đầu mối, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, môi trường. Về nguồn lực văn hóa, hàng đầu là truyền thống văn hiến lâu đời, đội ngũ trí thức đông đảo, các di tích lịch sử - văn hóa, trình độ dân trí cao, giá trị kiến trúc cổ. Trong lời nói đầu của đề tài, tác giả Phùng Hữu Phú đã nêu vấn đề: Trong mười, hai mươi năm tới, Thủ đô sẽ phát triển bứt phá bằng những nguồn lực nào? theo phương hướng, giải pháp nào? Đó là câu hỏi lớn đặt ra trước Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hà Nội, đồng thời thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học, các cán bộ quản lý.
Với tình yêu và trách nhiệm đối với Thủ đô, tập thể tác giả cuốn sách này mong muốn được góp phần đưa ra lời giải chính thức cho vấn đề rất có ý nghĩa này[91, tr. 19 Trong phần “Tổng quan về lợi thế, tiềm năng và giá trị các nguồn lực phát triển kinh tế”, các tác giả đã tổng quan “nguồn tài nguyên văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể” như sau: Nguồn lực văn hóa, tài nguyên văn hóa ở đất Thăng Long - Hà Nội chủ yếu và trước hết là Vốn Con Người: các bậc minh quân, tôi hiền, tướng giỏi, nông dân, thợ thủ công tinh xảo, các bậc thầy đạo cao đức trọng, đặc biệt là các lớp thị dân Thăng Long tài hoa, thanh lịch hàng nghìn năm qua đã hội tụ về đất Kinh kỳ. Đây là nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế, xã hội trong quá trình đô thị hóa đất Thăng Long - Hà Nội. Trong suốt 1000 năm xây dựng, bảo vệ Kinh đô - Thủ đô, các thế hệ người Thăng Long - Hà Nội đã sáng tạo các giá trị văn hóa vô cùng phong phú, quý giá.
Qua sự sàng lọc, thử thách của thời gian, các giá trị đó kết tinh thành di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Di sản văn hóa vật thể ở Thăng Long - Hà Nội phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của mỗi giai đoạn lịch sử phát triển Thăng Long, Hà Nội và của cả nước. Đó là các đình, đền, chùa, phủ, miếu, mà trong nội thất thờ cúng còn lưu giữ được nhiều tác phẩm mỹ thuật, điêu khắc có giá trị cao, ngày nay đã trở thành cổ vật qúy hiếm. Bên ngoài các di tích là môi trường cảnh quan độc đáo với hồ nước hòa hợp với cây quả quý hiếm xanh tươi bốn mùa; với các lễ hội cổ truyền đề cao Thiện Tâm, lòng yêu nước thương nòi và văn hóa thụ lộc (ẩm thực) tinh tế, có lễ nghĩa, kính trên nhường dưới.
Đó là vốn tài sản vật chất và tinh thần vô giá trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc được lưu giữ trên đất Kinh kỳ, mà các thế hệ ông bà ta đã nhiều đời chắt chiu, tạo dựng trong trường kỳ lao động, sáng tạo. Đặc biệt quan trọng là khu Di tích khảo cổ học ở 18 Hoàng Diệu và Thành cổ Hà Nội hợp thành “khu di tích Trung tâm Hoàng Thành Thăng Long - Hà Nội”. Nơi đây, lưu giữ nhiều nền móng các kiến trúc, các di vật quý hiếm từ thời Bắc thuộc, trải qua các thời Đại Việt đến thời Đại Hồ Chí Minh. Đầu năm 2009, 20 Khu di tích trung tâm (Cấm thành) của Hoàng Thành Thăng Long - Hà Nội đã được Chính phủ ta trình lên UNESCO xét để xếp hạng là Di sản văn hóa thế giới.
Di sản văn hóa phi vật thể ở Thăng Long - Hà Nội gồm văn học dân gian, lễ hội truyền thống, trò chơi dân gian, nghệ thuật cổ truyền, phong tục tập quán, văn hóa ẩm thực, nghệ thuật và tri thức dân gian. Đây là những nguồn lực rất đa dạng và phong phú góp phần vào đời sống văn hóa tinh thần, thể hiện bản sắc độc đáo của văn hóa Thủ đô. Thăng Long - Hà Nội là một trong những địa phương có số di tích lịch sử văn hóa phong phú vào loại nhất trên cả nước. Theo kết quả kiểm kê, xếp hạng di tích, đến nay tổng số di tích toàn thành phố Hà Nội có 5.