Tổng quan nghiên cứu
Việt Nam sở hữu hơn 3.260 km đường bờ biển với mạng lưới thủy văn dày đặc, trung bình cứ khoảng 20 km bờ biển lại có một cửa sông đổ ra đại dương. Vùng kinh tế ven biển hiện đóng góp khoảng 30% GDP và chiếm tới 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Trong hệ thống các cửa sông miền Trung, cửa Đà Diễn (còn gọi là cửa Đà Rằng) thuộc hạ lưu hệ thống sông Ba, tỉnh Phú Yên là một đầu mối giao thương đường thủy và dịch vụ hậu cần nghề cá đặc biệt quan trọng. Đây là nơi neo đậu, xuất nhập bến an toàn của gần 900 tàu thuyền khai thác hải sản xa bờ, đặc biệt là đội tàu câu cá ngừ đại dương chủ lực của phường 6 và phường Phú Lâm thuộc thành phố Tuy Hòa.
Tuy nhiên, từ cuối mùa mưa năm 2006 đến nay, do tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu và sự suy giảm các trận lũ lớn từ thượng nguồn, cửa sông Đà Diễn liên tục rơi vào tình trạng bồi lấp cát nghiêm trọng trong mùa khô và xói lở dữ dội trong mùa mưa bão. Hàng năm, ngân sách địa phương phải chi trả khoảng 600 triệu đồng cho công tác hút cát nạo vét khơi thông luồng lạch. Khi biển động mạnh, các bãi cát bồi ngầm hình thành cách bờ hơn 100 mét khiến tàu thuyền không thể ra vào cảng, gây thiệt hại kinh tế hàng trăm triệu đồng cho ngư dân. Đồng thời, quá trình xói lở bờ biển ăn sâu vào đất liền hơn 80 mét trên chiều dài hơn 400 mét, trực tiếp đe dọa diện tích nuôi trồng thủy sản và cơ sở hạ tầng dân sinh.
Trước thực trạng đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá định lượng tác động của chế độ dòng chảy hạ lưu sông Ba kết hợp các yếu tố động lực biển đến sự bồi lấp cửa sông Đà Diễn. Nghiên cứu thực hiện trên phạm vi toàn bộ lưu vực sông Ba với diện tích 14.132 km², tập trung vào đoạn hạ lưu dài 40 km từ trạm thủy văn Củng Sơn ra đến cửa biển. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, hỗ trợ cắt giảm khoảng 40% đến 60% chi phí nạo vét tạm thời hàng năm, ổn định đời sống sinh kế cho ngư dân và bảo vệ hơn 20.000 ha đồng bằng trù phú Tuy Hòa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết thủy động lực học dòng chảy sông ngòi và động lực học vùng bờ biển ven cửa sông. Trong lòng dẫn sông ngòi, chuyển động của dòng nước được mô tả thông qua hệ phương trình Saint-Venant 1 chiều biểu thị định luật bảo toàn khối lượng và định luật bảo toàn động lượng. Tại vùng ven bờ và cửa biển, quy luật tương tác phức tạp giữa sông và biển được giải quyết bằng hệ phương trình nước nông 2 chiều (Shallow Water Equations) kết hợp phương trình chuyển động của sóng và phương trình bảo toàn nồng độ bùn cát.
Mô hình nghiên cứu tích hợp ba khối module chính: module thủy lực dòng chảy 1D (MIKE 11 HD), module thủy động lực học 2D (MIKE 21 HD) và module vận chuyển bùn cát, biến đổi đáy (MIKE 21 ST/MT). Các khái niệm khoa học cốt lõi được vận dụng xuyên suốt bao gồm: động lực học cửa sông hình thái mở, chế độ nhật triều không đều, trường sóng biển ven bờ, cơ chế dịch chuyển bùn cát dọc bờ và trạng thái cân bằng động lực lòng dẫn.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu được trích xuất từ chuỗi số liệu quan trắc khí tượng thủy văn hơn 40 năm (giai đoạn 1976 - 2016) tại 15 trạm thủy văn phân bố trên toàn bộ lưu vực sông Ba như trạm Củng Sơn, Sông Hinh, Phú Lâm và trạm Tuy Hòa. Dữ liệu địa hình mặt cắt sông và bình đồ đáy biển được số hóa chi tiết từ các đợt khảo sát thực tế vào các năm 1997, 2008, 2015 và 2016.
Về phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu chọn lọc dữ liệu thủy lực và hải văn từ 15 trạm quan trắc tiêu biểu đại diện cho các tiểu vùng khí hậu trên diện tích 14.132 km² của lưu vực sông Ba. Các chu kỳ lấy mẫu mô phỏng tập trung vào các tháng đặc trưng của hai mùa gió mùa chính: gió mùa Tây Nam (tháng 5 đến tháng 9) và gió mùa Đông Bắc (tháng 10 đến tháng 12). Lý do lựa chọn chuỗi mô hình số trị liên kết MIKE 11 và MIKE 21 là vì cấu trúc hình thái hạ lưu sông Ba từ trạm Củng Sơn về cửa biển dài hơn 40 km có sự chuyển tiếp rõ rệt từ lòng sông dạng máng sang vùng cửa vịnh mở rộng, nơi chịu tác động đồng thời của dòng chảy lũ thượng nguồn và sóng gió biển Đông.
Quy trình nghiên cứu triển khai theo các mốc thời gian chặt chẽ: thiết lập biên thủy văn thượng lưu bằng mô hình 1 chiều MIKE 11, truyền biên dòng chảy tới cầu Đà Rằng để làm điều kiện biên đầu vào cho mô hình 2 chiều MIKE 21. Các kịch bản biến đổi đáy được mô phỏng chi tiết trong khung thời gian 10 ngày đến 15 ngày ứng với từng hướng sóng cực đoan.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích số liệu quan trắc thủy văn và kết quả chạy mô hình toán đã chỉ ra 4 phát hiện mang tính quy luật về động lực bồi lấp cửa Đà Diễn:
Thứ nhất, dòng chảy hạ lưu sông Ba có sự phân hóa mùa cực kỳ sâu sắc. Mùa cạn kéo dài suốt 8 tháng nhưng chỉ chiếm từ 25% đến 30% tổng lượng dòng chảy cả năm. Lưu lượng dòng chảy mùa kiệt tại trạm Củng Sơn suy giảm mạnh, vận tốc dòng chảy qua cửa sông giảm xuống dưới 0,3 m/s, hoàn toàn mất khả năng đẩy trôi bùn cát do biển đưa vào.
Thứ hai, trường sóng biển vào mùa khô chịu sự chi phối mạnh mẽ của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông với chiều cao sóng trung bình từ 1,0 mét và sóng cực đại lên tới 3,5 mét đến 4,0 mét. Dưới tác động của trường sóng này kết hợp pha triều xuống, bãi cát ngầm trước cửa sông mở rộng nhanh chóng, đáy luồng lạch bị nâng cao từ 0,5 mét đến 1,2 mét chỉ sau 10 đến 15 ngày mô phỏng.
Thứ ba, vào mùa mưa lũ kéo dài 4 tháng (từ tháng 9 đến tháng 12), lưu vực tập trung từ 70% đến 75% lượng nước cả năm. Các trận lũ đặc biệt lớn với lưu lượng đỉnh lũ vượt 20.000 m³/s tại Củng Sơn giúp xói sâu và tái mở rộng cửa sông, giải tỏa hàng triệu mét khối cát bồi nhưng đồng thời lại gây xói lở dải bờ biển lân cận trên chiều dài vượt mốc 400 mét.
Thứ tư, khi so sánh các kịch bản hướng sóng khác nhau, hướng sóng Đông Bắc và hướng Đông tạo ra mức độ bồi lấp đáy cửa sông cao hơn từ 45% đến 60% so với hướng sóng Tây Nam, khiến khẩu độ cửa sông bị bóp hẹp hơn 60% diện tích mặt cắt lưu thông vào các tháng đỉnh điểm mùa khô.
Thảo luận kết quả
Cơ chế bồi lấp cửa Đà Diễn được lý giải là sự mất cân bằng năng lượng thủy động lực học giữa nguồn động lực từ sông và nguồn động lực từ biển. Trong mùa khô, lượng mưa toàn lưu vực chỉ chiếm khoảng 16% đến 31% tổng lượng mưa năm, các hồ chứa thủy điện ở thượng nguồn tích nước làm dòng chảy hạ du kiệt quệ. Lúc này, năng lượng sóng và dòng chảy ven bờ chiếm ưu thế tuyệt đối, vận chuyển cát từ dải ven bờ Tuy Hòa bồi tụ trực tiếp vào lòng dẫn cửa sông.
So sánh với các nghiên cứu tương tự tại các cửa sông duyên hải miền Trung như cửa Thuận An, cửa Tư Hiền hay cửa Đà Nông, quy luật bồi lấp tại cửa Đà Diễn có tính chất tương đồng về mặt hình thái học: mùa lũ mở cửa xói lở bờ, mùa kiệt bồi lấp đóng kín luồng. Tuy nhiên, cửa Đà Diễn chịu tác động mạnh hơn do diện tích lưu vực sông Ba rất lớn (14.132 km²) và sự can thiệp của các bậc thang thủy điện bậc cao.
Các kết quả nghiên cứu định lượng này được trình bày trực quan thông qua hệ thống bản đồ số trị thể hiện trường vector vận tốc dòng chảy 2 chiều, biểu đồ hoa sóng Tuy Hòa và các bảng so sánh cao trình biến đổi đáy sau chu kỳ 10 ngày và 15 ngày. Các đồ thị diễn biến mực nước và lưu lượng kiểm định tại trạm Phú Lâm phản ánh mức độ trùng khớp cao giữa dữ liệu tính toán và số liệu thực đo.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả mô phỏng động lực học, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình cụ thể nhằm ổn định luồng lạch cửa Đà Diễn:
Một là, xây dựng tuyến đê hướng dòng kết hợp mỏ hàn chắn cát bờ Bắc dài khoảng 300 mét đến 500 mét và kè bảo vệ bờ Nam. Mục tiêu là tập trung vận tốc dòng chảy mùa kiệt qua luồng chính đạt trên 0,8 m/s, duy trì độ sâu luồng chạy tàu ổn định ở mức tối thiểu từ 2,5 mét đến 3,0 mét. Lộ trình thực hiện trong giai đoạn 2026 - 2028 do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Phú Yên phối hợp với Bộ Giao thông Vận tải làm chủ thể đầu tư.
Hai là, ban hành quy chế vận hành điều tiết liên hồ chứa thủy điện trên lưu vực sông Ba (bao gồm hồ Sông Ba Hạ, Sông Hinh, Krông H’năng) nhằm duy trì lưu lượng xả tối thiểu mùa khô không dưới 80 m³/s đến 100 m³/s về hạ lưu. Mục tiêu tạo động lực thường xuyên đẩy cát biển ra xa cửa. Thời gian áp dụng thường niên từ tháng 3 đến tháng 8 do Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Yên và các công ty thủy điện phối hợp thực hiện.
Ba là, tái cơ cấu hoạt động nạo vét định kỳ có kiểm soát kết hợp tận thu bùn cát sạch để nuôi bãi tôn tạo bờ biển Tuy Hòa. Mục tiêu nạo vét khơi thông từ 150.000 m³ đến 200.000 m³ cát mỗi mùa khô trước khi thời tiết chuyển biến động. Thời gian triển khai hàng năm vào tháng 3 đến tháng 5 do Ban Quản lý Cảng cá tỉnh Phú Yên chủ trì thực hiện.
Bốn là, thiết lập hệ thống quan trắc tự động trường sóng, mực nước triều và diễn biến bồi xói lòng dẫn tại 02 vị trí trọng điểm ngoài cửa biển với tần suất cập nhật dữ liệu 15 phút một lần. Lộ trình hoàn thiện trong giai đoạn 2026 - 2027 do Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Trung Bộ vận hành.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả của luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:
Thứ nhất, các nhà quản lý quy hoạch và lãnh đạo ban ngành tại tỉnh Phú Yên (Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai). Luận văn cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác để phân bổ nguồn vốn nạo vét hàng năm hơn 600 triệu đồng đúng vị trí trọng điểm và xây dựng quy hoạch cảng cá đồng bộ cho gần 900 tàu thuyền.
Thứ hai, các kỹ sư công trình thủy và chuyên gia tư vấn thiết kế hạ tầng cảng đường thủy. Nghiên cứu cung cấp dữ liệu đầu vào chi tiết về trường sóng cực đại từ 3,5 mét đến 4,0 mét và chế độ bồi lắng đáy để tính toán thiết kế kết cấu đê kè chắn cát, mỏ hàn hướng dòng tối ưu.
Thứ ba, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Thủy văn học, Hải dương học và Kỹ thuật tài nguyên nước. Tài liệu là một case study điển hình về quy trình tích hợp mô hình thủy lực 1 chiều MIKE 11 và mô hình 2 chiều MIKE 21 trên chuỗi dữ liệu hơn 40 năm của một lưu vực rộng 14.132 km².
Thứ tư, các hiệp hội nghề cá và doanh nghiệp khai thác hải sản Tuy Hòa. Ngư dân và chủ tàu có thể nắm bắt rõ chu kỳ biến động luồng lạch theo từng pha triều và hướng sóng để chủ động lịch trình tàu xuất nhập bến an toàn, hạn chế tối đa rủi ro mắc cạn hoặc hư hại tàu thuyền.
Câu hỏi thường gặp
Nguyên nhân cốt lõi gây bồi lấp cửa sông Đà Diễn trong mùa khô là gì? Dòng chảy hạ lưu sông Ba trong mùa khô suy giảm nghiêm trọng, chỉ chiếm 25% đến 30% tổng lượng dòng chảy cả năm. Trong khi đó, sóng biển hướng Đông Bắc với chiều cao từ 1,0 mét đến 3,5 mét hoạt động mạnh liên tục vận chuyển bùn cát ven bờ bồi đắp vào lòng dẫn yếu ớt, làm cửa sông bị bồi lấp và thu hẹp nhanh chóng.
Tại sao cần kết hợp mô hình MIKE 11 và MIKE 21 trong nghiên cứu này? Mô hình MIKE 11 giải quyết bài toán truyền sóng lũ và dòng chảy 1 chiều dọc theo 40 km sông từ Củng Sơn về Tuy Hòa để tính toán lưu lượng biên. Mô hình MIKE 21 kế thừa biên lưu lượng này để mô phỏng tương tác 2 chiều phức tạp giữa dòng chảy sông, trường sóng biển và quá trình biến động đáy chi tiết trong chu kỳ 10 đến 15 ngày tại khu vực cửa vịnh.
Tình trạng bồi lấp cửa sông gây thiệt hại kinh tế như thế nào đối với Phú Yên? Hiện tượng bồi lấp trực tiếp làm tê liệt tuyến giao thông thủy của gần 900 tàu cá công suất lớn tại Tuy Hòa, dẫn đến các vụ tai nạn chìm tàu nghiêm trọng như sự cố tháng 3 năm 2008 gây thiệt hại hàng trăm triệu đồng. Đồng thời, ngân sách địa phương phải tiêu tốn khoảng 600 triệu đồng mỗi năm cho các biện pháp nạo vét tạm thời.
Các giải pháp nạo vét bùn cát hiện nay có giải quyết triệt để vấn đề không? Nạo vét cơ giới thuần túy chỉ mang lại hiệu quả ngắn hạn. Khi xuất hiện sóng lớn trên 3,0 mét, các doi cát ngầm hình thành cách bờ hơn 100 mét khiến tàu hút bùn không thể tiếp cận. Hơn nữa, lượng bùn cát ven biển sẽ nhanh chóng tái bồi lấp lòng dẫn chỉ sau 10 đến 15 ngày nếu không có công trình đê kè hướng dòng che chắn.
Quy trình vận hành xả nước thủy điện ở thượng nguồn có vai trò gì trong việc giảm bồi lấp? Xả nước duy trì dòng chảy môi trường từ 80 m³/s đến 100 m³/s trong mùa kiệt giúp gia tăng đáng kể động lực dòng chảy trong sông, tạo ra lực đẩy thường xuyên để tống khứ bùn cát lắng đọng ra biển sâu. Khi kết hợp cùng đê mỏ hàn dài 300 mét đến 500 mét, giải pháp này sẽ ổn định luồng chạy tàu quanh năm.
Kết luận
Luận văn đã giải quyết trọn vẹn và tường minh các mục tiêu khoa học đặt ra:
- Xác định rõ cơ chế bồi lấp cửa Đà Diễn là hệ quả của sự tương tác bất cân xứng giữa dòng chảy kiệt hạ lưu sông Ba và trường sóng gió biển Đông.
- Thiết lập và kiểm định thành công chuỗi mô hình số trị liên hoàn MIKE 11 và MIKE 21 trên cơ sở chuỗi dữ liệu thủy văn hơn 40 năm với độ tin cậy cao.
- Định lượng chính xác mức độ bồi lắng lòng dẫn đáy sông từ 0,5 mét đến 1,2 mét sau 10 đến 15 ngày dưới các kịch bản sóng hướng Đông và Đông Bắc.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp đê kè hướng dòng, quy chế xả nước liên hồ chứa và quan trắc tự động nhằm bảo vệ an toàn cho gần 900 tàu đánh bắt hải sản.
- Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ trực tiếp cho đề tài khoa học cấp nhà nước mã số ĐTĐL.15/15 về ổn định các cửa sông tỉnh Phú Yên.
Lộ trình chuyển giao và ứng dụng thực tế các giải pháp công trình dự kiến triển khai trong giai đoạn 2026 - 2028. Các cơ quan quản lý, đơn vị tư vấn và nhà nghiên cứu quan tâm vui lòng tham khảo chi tiết toàn văn luận văn thạc sĩ để áp dụng hiệu quả vào công tác quy hoạch, chỉnh trị và quản lý bền vững dải ven biển miền Trung!