CHƯƠNG 1 KẾ TOÁN CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH TRONG CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO CHUẨN MựC KẾ TOÁN QUỐC TẾ 1. CHUẨN MựC KẾ TOÁN QUỐC TẾ VỀ CÔNG CỤ TÀI CHÍNH ÁP DỤNG CHO CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1. Giới thiệu các Chuẩn mực kế toán quốc tế về công cụ tài chính 1. Chuẩn mực kế toán quốc tế “IAS 32-Các công cụ tài chính: Trình bày” Chuẩn mực kế toán quốc tế “IAS 32-Các công cụ tài chính: Trình bày” đua ra các yêu cầu kế toán cho việc trình bày các công cụ tài chính đặc biệt là việc phân loại các công cụ này thành các loại tài sản tài chính, các khoản nợ tài chính hay các công cụ vốn chủ sở hữu.
Chuẩn mực này cũng đua ra các huớng dẫn đối với việc phân loại các khoản lãi suất, cổ tức và các khoản lãi/lỗ liên quan cũng nhu các truờng hợp tài sản tài chính và các khoản nợ tài chính có thể đuợc bù trừ cho nhau. CMKT quốc tế IAS 32 có lịch sử hình thành từ cách đây 24 năm kể từ thang 9 năm 1991 khi IASB đua bản dự thảo E40 “Các công cụ tài chính” để thảo luận, bổ sung và điều chỉnh. Đến ngày 1 tháng 1 năm 1996, chuẩn mực IAS 32 chính thức đuợc ban hành và có hiệu lực. Kể từ đó, IASB tiếp tục đuợc sửa đổi, điều chỉnh cho phù hợp với các vấn đề phát sinh mới đối với công cụ tài chính thông qua các phiên bản điều chỉnh.
Lần điều chỉnh gần nhất đuợc thực hiện vào tháng 12 năm 2011 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2014 liên quan đến việc bù trừ giữa tài sản tài chính và các khoản nợ tài chính. Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế “IFRS 7-Các công cụ tài chính: Công bố thông tin” Đối với chuẩn mực báo cáo tài chính (BCTC) quốc tế “IFRS 7-Các công cụ tài chính: Công bố thông tin” thì bản dự thảo đuợc đua ra để thảo luận vào ngày 22 tháng 7 năm 2004. Đến ngày 18 tháng 8 năm 2005, IFRS 7 5 được ban hành và thay thế “IAS 30-Công bố trong báo cáo tài chính của các ngân hàng và các tổ chức tài chính tương tự” và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2007. Từ năm 2007 đến nay chuẩn mực IFRS 7 liên tục được chỉnh sửa, bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu của người sử dụng, và tạo ra sân chơi bình đẳng với US GAAP.
IFRS 7 đưa ra các yêu cầu về trình bày/công bố thông tin trên báo cáo tài chính để người sử dụng báo cáo có thể đánh giá được mức độ quan trọng của các công cụ tài chính cũng như bản chất, mức độ rủi ro của các công cụ tài chính mà tổ chức đang nắm giữ tại ngày báo cáo và cách thức quản trị các rủi ro này. Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế “IFRS 9-Các công cụ tài chính ” Chuẩn mực BCTC quốc tế “IFRS 9-Các công cụ tài chính” được IASB ban hành ngày 24 tháng 7 năm 2014, thay thế cho CMKT quốc tế “IAS 39- Các công cụ tài chính: Ghi nhận và Đo lường” do có nhiều ý kiến phản hồi từ những người sử dụng BCTC và các bên liên quan khác rằng IAS 39 quá khó hiểu và khó áp dụng trên thực tế. Theo đó, họ đã đệ trình lên Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) về việc cần thiết phải xây dựng một chuẩn mực báo cáo tài chính mới cho các công cụ tài chính, một chuẩn mực mang tính cơ bản và ít phức tạp hơn IAS 39. Để đáp ứng các yêu cầu này, IASB đã chia dự án thay thế IAS 39 thành ba giai đoạn chính, đánh dấu sự ra đời của các phiên bản IFRS năm 2009, 2010 và 2013.
Các phiên bản này thay thế từng phần của IAS 39 và thay thế hoàn toàn IAS 39 với sự ra đời của phiên bản IFRS 9 năm 2014. Phiên bản IFRS 9 ban hành năm 2014 thay thế cho tất cả các phiên bản IFRS 9 trước đó (IFRS 9 năm 2009, 2010 và 2013) và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2018. Chuẩn mực này đưa ra các yêu cầu đối với việc ghi nhận, đo lường, suy giảm giá trị, ngừng ghi nhận và kế toán việc tự bảo hiểm. Nội dung cơ bản của chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế về công cụ tài chính 1.
Khái niệm, phân loại và dấu hiệu nhận biết công cụ tài chính theo chuẩn mực quốc tế 6 a/Một số khái niệm về công cụ tài chính Công cụ tài chính là bất kỳ hợp đồng nào đó đem lại sự gia tăng một tài sản tài chính của doanh nghiệp này và một khoản nợ tài chính hoặc công cụ vốn chủ sở hữu cho một doanh nghiệp khác. Một công cụ tài chính có thể yêu cầu doanh nghiệp giao tiền hoặc tài sản tài chính khác, hoặc sẽ thanh toán nó theo cách nó là một khoản nợ tài chính, trong truờng hợp sẽ diễn ra hoặc không diễn ra các sự kiện nào đó trong tuơng lai (hoặc dựa trên tác động của một tình huống nào đó) mà chúng vuợt qua tầm kiểm soát của cả nhà phát hành và nguời nắm giữ công cụ tài chính, ví dụ nhu là: sự thay đổi trong chỉ số thị truờng chứng khoán, chỉ số giá cả tiêu dùng, lãi suất hoặc các yêu cầu về thuế hoặc các khoản thu nhập tuơng lai của nhà phát hành, lợi nhuận thuần hoặc tỷ suất nợ trên vốn. Tài sản tài chính là bất kỳ tài sản nào nằm trong danh mục sau: - Tiền mặt; - Một công cụ vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp khác; - Một quyền hợp đồng để: + Nhận tiền mặt hoặc một tài sản tài chính khác từ một doanh nghiệp khác; hoặc + Trao đổi tài sản tài chính hoặc các khoản nợ tài chính với doanh nghiệp khác theo những điều khoản có lợi cho doanh nghiệp; hoặc - Một hợp đồng sẽ (hoặc có thể) đuợc thanh toán bằng các công cụ vốn chủ sở hữu của chính tổ chức. Nợ phải trả tài chính là các nghĩa vụ sau: - Mang tính bắt buộc để: + Thanh toán tiền mặt hoặc tài sản tài chính cho đơn vị khác; + Trao đổi các tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính với đơn vị khác theo các điều kiện không có lợi cho đơn vị; hoặc 7 - Hợp đồng sẽ hoặc có thể được thanh toán bằng các công cụ vốn chủ sở hữu của đơn vị.
Công cụ vốn chủ sở hữu là bất kỳ hợp đồng nào đó mà chứng minh phần lợi ích còn lại trong các tài sản của tổ chức sau khi trừ đi tất cả các khoản nợ của nó. Nghĩa vụ phát hành công cụ vốn chủ sở hữu (VCSH) không phải là nghĩa vụ nợ tài chính do nghĩa vụ này dẫn đến việc làm tăng VCSH và không gây tổn thất cho doanh nghiệp. Công cụ tài chính phái sinh là một công cụ tài chính hoặc một hợp đồng thỏa mãn đồng thời ba đặc điểm sau: - Có giá trị thay đổi theo sự thay đổi của lãi suất, giá công cụ tài chính, giá hàng hóa, tỷ giá hối đoái, chỉ số giá cả hoặc lãi suất, xếp hạng tín dụng hoặc chỉ số tín dụng, hoặc các chỉ số khác với điều kiện trong trường hợp các chỉ số khác này là các biến số phi tài chính thì biến số đó không liên quan đến các bên tham gia hợp đồng (còn được gọi là các biến số cơ sở); - Không yêu cầu đầu tư thuần ban đầu hoặc yêu cầu đầu tư thuần ban đầu thấp hơn so với các loại hợp đồng khác có các phản ứng tương tự đối với sự thay đổi của các yếu tố thị trường; và - Được thanh toán vào một ngày trong tương lai. Giá trị hợp lý là giá trị mà một tài sản có thể được trao đổi, hoặc một khoản nợ phải trả có thể được thanh toán giữa các bên có đầy đủ hiểu biết, mong muốn giao dịch, trong một giao dịch trao đổi ngang giá.
Giá trị phân bổ của tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được xác định bằng giá trị ghi nhận ban đầu của tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính trừ đi các khoản hoàn trả gốc, cộng hoặc trừ các khoản phân bổ lũy kế tính theo phương pháp lãi suất thực tế của phần chênh lệch giữa giá trị ghi nhận ban đầu và giá trị đáo hạn, trừ đi các khoản giảm trừ (trực tiếp hoặc thông qua việc sử dụng một tài khoản dự phòng) do giảm giá trị hoặc do không thể thu hồi. 8 Phương pháp lãi suất thực tế là phương pháp tính toán giá trị phân bổ của một hoặc một nhóm tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính và phân bổ thu nhập lãi hoặc chi phí lãi trong kỳ có liên quan. Lãi suất thực tế là lãi suất chiết khấu các luồng tiền ước tính sẽ chi trả hoặc nhận được trong tương lai trong suốt vòng đời dự kiến của công cụ tài chính hoặc ngắn hơn, nếu cần thiết, trở về giá trị ghi sổ hiện tại thuần của tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính. b/Phân loại và dấu hiệu nhận biết của các công cụ tài chính Theo mục đích nắm giữ, các công cụ tài chính được phân loại thành các nhóm cơ bản sau: (i) Nhóm các tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (thường được gọi là Nhóm các tài sản tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua lãi lô) Nhóm này bao gồm các tài sản tài chính hoặc khoản nợ phải trả tài chính thỏa mãn một trong các điều kiện sau: - Tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được phân loại vào nhóm nắm giữ để kinh doanh.
Tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được phân loại vào nhóm chứng khoán nắm giữ để kinh doanh, nếu: + Được mua hoặc tạo ra chủ yếu cho mục đích bán lại/ mua lại trong thời gian ngắn; + Có bằng chứng về việc kinh doanh công cụ đó nhằm mục đích thu lợi ngắn hạn; hoặc - Công cụ tài chính phái sinh (ngoại trừ các công cụ tài chính phái sinh được xác định là một hợp đồng bảo lãnh tài chính hoặc một công cụ phòng ngừa rủi ro hiệu quả).