Luận văn: Vận dụng IFRS về Công cụ Tài chính tại TCTD Việt Nam

Luận văn thạc sỹ: Vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS) về công cụ tài chính vào hạch toán kế toán tại TCTD Việt Nam. File Word đầy đủ.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ kinh tế

2015

109
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KẾ TOÁN CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH TRONG CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ

1.1. CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ VỀ CÔNG CỤ TÀI CHÍNH ÁP DỤNG CHO CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

1.1.1. Giới thiệu các Chuẩn mực kế toán quốc tế về công cụ tài chính

1.1.2. Nội dung cơ bản của chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế về công cụ tài chính

1.2. KẾ TOÁN CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH TRONG CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

1.2.1. Các công cụ tài chính trong Tổ chức tín dụng

1.2.2. Yêu cầu, nguyên tắc kế toán các công cụ tài chính trong Tổ chức tín dụng

1.2.3. Báo cáo tài chính và báo cáo kế toán trong Tổ chức tín dụng

1.3. KINH NGHIỆM VẬN DỤNG CÁC CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ VỀ CÔNG CỤ TÀI CHÍNH TRONG CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG CỦA CÁC NƯỚC VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

1.3.1. Kinh nghiệm vận dụng các Chuẩn mực kế toán quốc tế về công cụ tài chính trong các Tổ chức tín dụng của các nuớc

1.3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM

2.1. CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH CƠ BẢN VÀ CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH HIỆN CÓ TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM

2.1.1. Các công cụ tài chính hiện có trong các Tổ chức tín dụng tại Việt Nam

2.2. THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM

2.2.1. Kế toán với các tài sản tài chính

2.2.2. Kế toán với các công cụ tài chính phái sinh

2.2.3. Kế toán với các công cụ VCSH, công cụnợ và công cụ hỗn hợp

2.3. SỰ TƯƠNG QUAN VÀ KHÁC BIỆT TRONG KẾ TOÁN CÔNG CỤ TÀI CHÍNH CỦA VIỆT NAM VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ

2.3.1. Định nghĩa và phân loại các công cụ tài chính

2.3.2. Ghi nhận ban đầu đối với công cụ tài chính

2.3.3. Ghi nhận tiếp theo và đánh giá lại đối với công cụ tài chính

2.3.4. Dừng ghi nhận công cụ tài chính

2.3.5. Về trình bày các công cụ tài chính trên báo cáo tài chính

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ÁP DỤNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ VỀ CÔNG CỤ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM

3.1. Sự CẦN THIẾT ỨNG DỤNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ VỀ CÔNG CỤ TÀI CHÍNH VÀO HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM

3.2. GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ VỀ CÔNG CỤ TÀI CHÍNH VÀO HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM

3.2.1. Các giải pháp chung

3.2.2. Các giải pháp cụ thể

3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ

3.3.2. Kiến nghị với Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nước và các ngành

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám phá Chuẩn mực Kế toán Quốc tế về Công cụ Tài chính Tổng quan cần biết

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, các doanh nghiệp và đặc biệt là các Ngân hàng cần tuân thủ Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế. Việc nắm vững Chuẩn mực Kế toán Quốc tế về Công cụ Tài chính trở nên cực kỳ quan trọng, giúp tăng cường sự minh bạch và so sánh được của Báo cáo tài chính. Các chuẩn mực này cung cấp một khuôn khổ toàn diện cho việc ghi nhận công cụ tài chính, đo lường công cụ tài chính, phân loại công cụ tài chínhcông bố thông tin (Disclosure) liên quan đến Tài sản tài chính, Nợ phải trả tài chínhCông cụ vốn chủ sở hữu. Các chuẩn mực chính bao gồm IAS 32, IFRS 7IFRS 9 (thay thế IAS 39). Sự thay đổi từ IAS 39 sang IFRS 9 đánh dấu một bước tiến lớn, giải quyết những phức tạp và thách thức trong việc áp dụng chuẩn mực cũ. Mục tiêu cốt lõi của IFRS 9 là cung cấp thông tin tài chính đáng tin cậy hơn, đặc biệt trong việc đánh giá rủi ro tín dụngsuy giảm giá trị (Impairment). Chuẩn mực này yêu cầu một cách tiếp cận chủ động hơn đối với Mô hình tổn thất tín dụng kỳ vọng (ECL), phản ánh tốt hơn tình hình tài chính thực tế của các tổ chức. Việc áp dụng thành công các chuẩn mực này đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về các nguyên tắc, khái niệm và yêu cầu cụ thể. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến các chuyên gia kế toán mà còn đến các nhà quản lý, nhà đầu tư và các bên liên quan khác, những người dựa vào Báo cáo tài chính để đưa ra quyết định kinh doanh. Sự nhất quán trong việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế sẽ tạo ra sân chơi bình đẳng, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế. Đặc biệt, đối với các Tổ chức tín dụng (TCTD), nơi các công cụ tài chính chiếm phần lớn bảng cân đối kế toán, việc tuân thủ nghiêm ngặt các chuẩn mực kế toán quốc tế về công cụ tài chính là điều kiện tiên quyết để đảm bảo sự ổn định và bền vững. Việc đào tạo và nâng cao năng lực cho đội ngũ kế toán viên cũng là yếu tố then chốt để quá trình chuyển đổi diễn ra thuận lợi, đảm bảo chất lượng thông tin tài chính được công bố. Cuối cùng, việc triển khai hiệu quả các chuẩn mực kế toán quốc tế về công cụ tài chính không chỉ đáp ứng yêu cầu hội nhập mà còn là nền tảng vững chắc cho sự phát triển của thị trường tài chính tại Việt Nam.

1.1. Bối cảnh và sự ra đời của IFRS 9 IAS 32 IAS 39 IFRS 7

Sự ra đời của các Chuẩn mực Kế toán Quốc tế về Công cụ Tài chính là kết quả của quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu và nhu cầu minh bạch thông tin tài chính. IAS 32 – Công cụ tài chính: Trình bày, ban hành năm 1996, cung cấp các yêu cầu về cách phân loại các công cụ tài chính thành Tài sản tài chính, Nợ phải trả tài chính hoặc Công cụ vốn chủ sở hữu. Tiếp theo đó, IFRS 7 – Công cụ tài chính: Công bố thông tin, ban hành năm 2005, thay thế IAS 30, tập trung vào các yêu cầu công bố thông tin (Disclosure) chi tiết, giúp người sử dụng Báo cáo tài chính đánh giá được mức độ quan trọng và rủi ro của các công cụ tài chính nắm giữ. Bước ngoặt lớn là sự ra đời của IFRS 9 – Công cụ tài chính vào năm 2014, thay thế hoàn toàn IAS 39 – Công cụ tài chính: Ghi nhận và Đo lường. Lý do chính cho sự thay thế này là IAS 39 bị đánh giá là quá phức tạp và khó áp dụng trong thực tế, đặc biệt là trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. IFRS 9 được thiết kế nhằm đơn giản hóa, cải thiện tính hữu ích và dễ hiểu của các quy định kế toán về công cụ tài chính, tập trung vào ba lĩnh vực chính: phân loại công cụ tài chínhđo lường công cụ tài chính, suy giảm giá trị (Impairment)kế toán phòng ngừa rủi ro (Hedge Accounting). IFRS 9 chính thức có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2018, mang đến một cách tiếp cận mới và hiệu quả hơn. (Trích dẫn: "IFRS 9 ban hành năm 2014 thay thế cho tất cả các phiên bản IFRS 9 trước đó (IFRS 9 năm 2009, 2010 và 2013) và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2018.").

1.2. Định nghĩa cốt lõi Công cụ tài chính và các loại hình cơ bản

Để hiểu sâu sắc về Chuẩn mực Kế toán Quốc tế về Công cụ Tài chính, việc nắm vững các định nghĩa cốt lõi là điều cần thiết. Theo IAS 32, Công cụ tài chính là bất kỳ hợp đồng nào tạo ra một tài sản tài chính cho một doanh nghiệp và một nợ phải trả tài chính hoặc công cụ vốn chủ sở hữu cho một doanh nghiệp khác. Tài sản tài chính bao gồm tiền mặt, công cụ vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp khác, hoặc quyền hợp đồng để nhận tiền/tài sản tài chính khác. Ngược lại, Nợ phải trả tài chính là nghĩa vụ hợp đồng phải thanh toán tiền mặt hoặc trao đổi tài sản/nợ tài chính theo điều khoản không có lợi. Công cụ vốn chủ sở hữu thể hiện phần lợi ích còn lại trong tài sản sau khi trừ đi tất cả các khoản nợ. Một loại hình quan trọng khác là Công cụ tài chính phái sinh, có giá trị thay đổi theo biến động của các yếu tố thị trường như lãi suất, tỷ giá, giá hàng hóa, và không yêu cầu đầu tư ban đầu lớn, được thanh toán trong tương lai. (Trích dẫn: "Công cụ tài chính là bất kỳ hợp đồng nào đó đem lại sự gia tăng một tài sản tài chính của doanh nghiệp này và một khoản nợ tài chính hoặc công cụ vốn chủ sở hữu cho một doanh nghiệp khác."). Việc phân biệt rõ ràng các khái niệm này là nền tảng để áp dụng đúng đắn các quy định về ghi nhận công cụ tài chínhđo lường công cụ tài chính, đảm bảo tính chính xác của Báo cáo tài chính.

II. Thách thức lớn khi áp dụng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế về Công cụ Tài chính

Việc áp dụng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế về Công cụ Tài chính mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng đặt ra không ít thách thức cho các doanh nghiệp và đặc biệt là các Ngân hàng, Tổ chức tín dụng (TCTD). Một trong những khó khăn lớn nhất là sự phức tạp trong việc xác định Giá trị hợp lý (Fair Value) của các công cụ tài chính, đặc biệt là những công cụ không có thị trường giao dịch năng động hoặc các công cụ tài chính phái sinh phức tạp. Điều này đòi hỏi các tổ chức phải có hệ thống định giá tinh vi, dữ liệu thị trường đầy đủ và đội ngũ chuyên gia có chuyên môn cao. Ngoài ra, việc nhận diện và xử lý các công cụ tài chính phái sinh kèm theo trong các hợp đồng thông thường cũng là một bài toán khó, đòi hỏi sự phân tích kỹ lưỡng để tách bạch và hạch toán đúng theo yêu cầu của IFRS 9. Một thách thức khác nằm ở Mô hình tổn thất tín dụng kỳ vọng (ECL) theo IFRS 9. Mô hình này yêu cầu các tổ chức phải chủ động ước tính và ghi nhận suy giảm giá trị (Impairment) dựa trên thông tin quá khứ, hiện tại và dự báo về rủi ro tín dụng, thay vì chỉ ghi nhận khi tổn thất thực sự xảy ra như IAS 39. Điều này đòi hỏi sự thay đổi đáng kể trong hệ thống thu thập dữ liệu, phân tích và mô hình hóa, đặc biệt là ở những thị trường có dữ liệu lịch sử chưa đầy đủ. Hơn nữa, việc chuyển đổi từ hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) sang IFRS cũng gây ra sự khác biệt lớn về cách thức ghi nhận công cụ tài chính, đo lường công cụ tài chínhtrình bày báo cáo tài chính, đòi hỏi sự điều chỉnh về quy trình, hệ thống công nghệ thông tin và năng lực nhân sự. Các TCTD cần đầu tư đáng kể vào công nghệ và đào tạo để đáp ứng các yêu cầu mới, đồng thời phải đối mặt với những biến động tiềm ẩn trong Lợi nhuận và lỗ (P&L) do sự thay đổi trong cách hạch toán. Kinh nghiệm từ các quốc gia khác cho thấy, sự thiếu nhận thức và chuẩn bị kỹ lưỡng có thể dẫn đến chậm trễ và khó khăn trong quá trình chuyển đổi. (Trích dẫn: "Kinh nghiệm cho thấy nhiều công ty trong nuớc vẫn chua nhận thức hết đuợc sự phức tạp của việc chuyển đổi sang IFRS, và đặc biệt, IAS 32 và IAS 39.")

2.1. Phức tạp trong xác định Giá trị hợp lý và Công cụ phái sinh kèm theo

Việc xác định Giá trị hợp lý (Fair Value) là một trong những điểm khó khăn nhất khi áp dụng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế về Công cụ Tài chính, đặc biệt là ở các thị trường tài chính chưa phát triển. Theo IAS 39IFRS 9, nhiều công cụ tài chính phải được đo lường theo Giá trị hợp lý sau ghi nhận ban đầu. Tuy nhiên, đối với các tài sản không có thị trường giao dịch năng động hoặc các công cụ tài chính phái sinh không niêm yết, việc tìm kiếm dữ liệu đáng tin cậy để định giá trở thành một thách thức lớn. (Trích dẫn: "Không phải tất cả các công cụ tài chính đều có thể dễ dàng xác định đuợc giá trị hợp lý."). Ví dụ, việc định giá quyền chọn mua cổ phần của một công ty nhỏ chưa niêm yết đòi hỏi các kỹ thuật định giá phức tạp và giả định đáng tin cậy. Bên cạnh đó, các công cụ tài chính phái sinh kèm theo (embedded derivatives) ẩn trong các hợp đồng thông thường như hợp đồng cho vay, thuê tài sản, hay mua bán hàng hóa cũng là một vấn đề. Các tổ chức cần phải nhận diện, tách bạch các công cụ phái sinh này khỏi hợp đồng gốc và hạch toán riêng theo Giá trị hợp lý thông qua lãi lỗ (FVTPL). Điều này yêu cầu sự hiểu biết sâu sắc về cấu trúc hợp đồng và khả năng phân tích để đảm bảo không bỏ sót các thành phần phái sinh có thể ảnh hưởng lớn đến Báo cáo tài chínhLợi nhuận và lỗ (P&L).

2.2. Vấn đề suy giảm giá trị và Mô hình tổn thất tín dụng kỳ vọng ECL

Sự chậm trễ trong việc ghi nhận các tổn thất tín dụng theo IAS 39 là một điểm yếu lớn, vì nó chỉ ghi nhận khi có bằng chứng về một sự kiện tổn thất đã xảy ra. IFRS 9 ra đời nhằm khắc phục vấn đề này bằng cách giới thiệu Mô hình tổn thất tín dụng kỳ vọng (ECL), yêu cầu các Ngân hàngTổ chức tín dụng phải ghi nhận tổn thất tín dụng dự kiến vào mọi thời điểm và cập nhật định kỳ. Điều này mang lại cái nhìn chủ động hơn về rủi ro tín dụng, nhưng đồng thời cũng là một thách thức lớn. Các tổ chức phải xem xét thông tin hợp lý và có thể chứng minh được, bao gồm dữ liệu lịch sử, hiện tại và dự báo để ước tính ECL. (Trích dẫn: "Mô hình này đòi hỏi một tổ chức phải ghi nhận tổn thất tín dụng dự kiến vào mọi lúc và cập nhật giá trị tổn thất tín dụng dự kiến sẽ được ghi nhận tại mỗi kỳ báo cáo nhằm phản ánh những thay đổi trong rủi ro tín dụng của các công cụ tài chính."). Mô hình này chia quá trình ghi nhận suy giảm giá trị (Impairment) thành ba giai đoạn, tùy thuộc vào sự gia tăng rủi ro tín dụng kể từ khi ghi nhận công cụ tài chính ban đầu. Việc thu thập dữ liệu đầy đủ, xây dựng các mô hình định lượng phức tạp và chứng minh tính hợp lệ của các ước tính là những yêu cầu khó khăn, đặc biệt đối với các TCTD ở Việt Nam nơi dữ liệu lịch sử và kinh nghiệm mô hình hóa còn hạn chế. Điều này cũng ảnh hưởng đến việc lập Báo cáo tài chính và tính toán dự phòng rủi ro.

III. Giải pháp phân loại ghi nhận Công cụ Tài chính theo IFRS 9 hiệu quả

Để triển khai Chuẩn mực Kế toán Quốc tế về Công cụ Tài chính một cách hiệu quả, việc hiểu rõ các nguyên tắc phân loại công cụ tài chínhghi nhận công cụ tài chính theo IFRS 9 là yếu tố then chốt. IFRS 9 đưa ra một cách tiếp cận dựa trên mô hình kinh doanh của tổ chức và đặc điểm dòng tiền hợp đồng để xác định cách thức đo lường công cụ tài chính. Việc phân loại chính xác giúp đảm bảo rằng các Tài sản tài chínhNợ phải trả tài chính được trình bày một cách trung thực và hợp lý trên Báo cáo tài chính, phản ánh đúng bản chất kinh tế của giao dịch. Các tổ chức cần xây dựng các quy trình nội bộ rõ ràng để đánh giá và phân loại các công cụ tài chính ngay từ thời điểm ghi nhận ban đầu, đồng thời có khả năng phân loại lại khi có sự thay đổi trong mô hình kinh doanh. Sự thay đổi trong IFRS 9 so với IAS 39 về phân loại và đo lường đã đơn giản hóa đáng kể các lựa chọn, tập trung vào hai phương pháp đo lường chính là Giá trị hợp lý (thông qua Lợi nhuận và lỗ (P&L) hoặc Thu nhập toàn diện khác (OCI)) và Chi phí phân bổ (Amortised Cost). (Trích dẫn: "Theo phương pháp đo lường giá trị, các công cụ tài chính đuợc chia thành hai nhóm là: (i) nhóm công cụ tài chính đuợc đo luờng theo giá trị phân bổ và (ii) nhóm công cụ tài chính đuợc đo luờng theo giá trị hợp lý."). Ngoài ra, IFRS 9 cũng cung cấp các hướng dẫn cụ thể về nguyên tắc dừng ghi nhận đối với tài sản tài chínhnợ phải trả tài chính, đảm bảo rằng các tài sản và nghĩa vụ chỉ được loại bỏ khỏi bảng cân đối kế toán khi quyền hoặc nghĩa vụ hợp đồng thực sự chấm dứt. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ và khả năng phân tích hợp đồng sâu rộng để xác định chính xác thời điểm dừng ghi nhận. Việc áp dụng đúng các nguyên tắc này không chỉ giúp tuân thủ chuẩn mực mà còn nâng cao chất lượng thông tin kế toán, phục vụ tốt hơn cho việc ra quyết định của các nhà quản lý và nhà đầu tư.

3.1. Phân loại Tài sản tài chính và Nợ phải trả tài chính chính xác

Việc phân loại công cụ tài chính là bước khởi đầu quan trọng theo IFRS 9. Các tài sản tài chínhnợ phải trả tài chính được phân loại dựa trên hai yếu tố chính: mô hình kinh doanh của tổ chức để quản lý các tài sản đó và đặc điểm dòng tiền hợp đồng. Theo đó, các tài sản tài chính có thể được phân loại thành ba nhóm chính cho mục đích đo lường sau ghi nhận: được đo lường theo Chi phí phân bổ (Amortised Cost), theo Giá trị hợp lý thông qua Thu nhập toàn diện khác (FVTOCI), hoặc theo Giá trị hợp lý thông qua Lợi nhuận và lỗ (FVTPL). Các công cụ tài chính phái sinh thường được phân loại vào nhóm FVTPL. (Trích dẫn: "Việc phân loại các công cụ tài chính thành hai nhóm trên căn cứ trên cơ sở: – Mô hình kinh doanh của tổ chức đối với việc quản trị các công cụ tài chính; và – Đặc điểm, đặc tính của dòng tiền do công cụ tài chính mang lại."). Đối với nợ phải trả tài chính, hầu hết được đo lường theo Chi phí phân bổ, trừ khi chúng được nắm giữ với mục đích kinh doanh hoặc được chỉ định là FVTPL để loại bỏ sự không nhất quán trong kế toán. Sự phân loại chính xác này ảnh hưởng trực tiếp đến cách thức các thay đổi giá trị hợp lý hoặc lãi suất được ghi nhận trên Báo cáo tài chính, cụ thể là trong Lợi nhuận và lỗ (P&L) hoặc Thu nhập toàn diện khác (OCI), từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp.

3.2. Hướng dẫn ghi nhận ban đầu và dừng ghi nhận công cụ tài chính

Nguyên tắc ghi nhận công cụ tài chính ban đầu quy định một tổ chức sẽ ghi nhận một tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính trên bảng cân đối kế toán khi tổ chức đó trở thành một bên trong hợp đồng mua/bán công cụ tài chính. Tất cả các công cụ tài chính, bao gồm cả công cụ tài chính phái sinh, đều phải được ghi nhận. Tại thời điểm ghi nhận ban đầu, các công cụ này được đo lường theo Giá trị hợp lý (Fair Value). Đối với các công cụ không thuộc nhóm Giá trị hợp lý thông qua Lợi nhuận và lỗ (FVTPL), chi phí giao dịch trực tiếp liên quan sẽ được cộng hoặc trừ vào Giá trị hợp lý ban đầu. (Trích dẫn: "Tất cả các công cụ tài chính được ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý dương hoặc âm, trong trường hợp tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính không thuộc nhóm giá trị hợp lý thông qua lãi lỗ, nó sẽ được ghi nhận ban đầu theo chi phí giao dịch."). Nguyên tắc dừng ghi nhận công cụ tài chính quy định việc loại bỏ một tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính khỏi bảng cân đối kế toán khi các quyền thu hồi dòng tiền từ tài sản không còn, hoặc nghĩa vụ hợp đồng đối với nợ phải trả đã được thanh toán, hủy bỏ, hoặc hết hạn. Đối với tài sản tài chính, việc dừng ghi nhận cũng xảy ra khi tổ chức đã chuyển giao toàn bộ hoặc phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với tài sản, hoặc đã chuyển giao quyền kiểm soát tài sản.

IV. Phương pháp đo lường Công cụ Tài chính Từ Giá trị phân bổ đến Giá trị hợp lý

Sau khi ghi nhận công cụ tài chính ban đầu, các tổ chức cần áp dụng các phương pháp đo lường công cụ tài chính phù hợp theo IFRS 9. Sự lựa chọn giữa Chi phí phân bổ (Amortised Cost)Giá trị hợp lý (Fair Value) phụ thuộc vào kết quả của quy trình phân loại công cụ tài chính đã thực hiện. Đối với các tài sản tài chính được giữ để thu thập các dòng tiền theo hợp đồng và có dòng tiền chỉ bao gồm gốc và lãi, chúng sẽ được đo lường theo Chi phí phân bổ (trừ đi dự phòng suy giảm giá trị). Phương pháp này tính toán giá trị phân bổ bằng cách sử dụng phương pháp lãi suất thực tế, phản ánh thu nhập hoặc chi phí lãi một cách có hệ thống trong suốt vòng đời của công cụ. Ngược lại, những công cụ tài chính không đáp ứng các tiêu chí trên sẽ được đo lường theo Giá trị hợp lý. Những thay đổi trong Giá trị hợp lý có thể được ghi nhận vào Lợi nhuận và lỗ (P&L) hoặc Thu nhập toàn diện khác (OCI), tùy thuộc vào phân loại cụ thể của công cụ (ví dụ: FVTPL hoặc FVTOCI). Công cụ tài chính phái sinh hầu như luôn được đo lường theo Giá trị hợp lý với các thay đổi được ghi nhận vào Lợi nhuận và lỗ. (Trích dẫn: "Khi một tài sản được đo lường theo giá trị hợp lý, các khoản lãi lỗ đều phải được ghi nhận toàn bộ vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (giá trị hợp lý thông qua lãi lỗ-FVTPL) hoặc ghi nhận vào “Thu nhập khác” (giá trị hợp lý thông qua thu nhập khác-FVTOCI)."). Ngoài ra, kế toán phòng ngừa rủi ro (Hedge Accounting) là một kỹ thuật quan trọng cho phép các doanh nghiệp điều chỉnh cách thức ghi nhận công cụ tài chính nhằm phản ánh hiệu quả của các giao dịch phòng ngừa rủi ro, giảm biến động trong Lợi nhuận và lỗ do sự biến động Giá trị hợp lý của các công cụ phái sinh. Việc áp dụng đúng các phương pháp đo lường này là cần thiết để Báo cáo tài chính phản ánh chính xác tình hình tài sản tài chínhnợ phải trả tài chính của doanh nghiệp, cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư và các bên liên quan.

4.1. Đo lường sau ghi nhận Chi phí phân bổ và giá trị hợp lý

Sau khi ghi nhận công cụ tài chính ban đầu, việc đo lường công cụ tài chính tiếp theo sẽ tuân theo hai phương pháp chính: Chi phí phân bổ (Amortised Cost)Giá trị hợp lý (Fair Value). Tài sản tài chính được đo lường theo Chi phí phân bổ nếu được nắm giữ với mục đích thu các dòng tiền theo hợp đồng và có đặc điểm dòng tiền chỉ là gốc và lãi. Giá trị này được xác định bằng giá trị ban đầu trừ đi các khoản hoàn trả gốc, cộng hoặc trừ các khoản phân bổ lũy kế tính theo phương pháp lãi suất thực tế của phần chênh lệch giữa giá trị ghi nhận ban đầu và giá trị đáo hạn, và trừ đi suy giảm giá trị (Impairment). Ngược lại, các tài sản tài chínhnợ phải trả tài chính khác sẽ được đo lường theo Giá trị hợp lý. Sự thay đổi giá trị hợp lý của các tài sản này có thể được ghi nhận vào Lợi nhuận và lỗ (P&L) (đối với FVTPL) hoặc vào Thu nhập toàn diện khác (OCI) (đối với FVTOCI). (Trích dẫn: "Giá trị phân bổ của tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được xác định bằng giá trị ghi nhận ban đầu của tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính trừ đi các khoản hoàn trả gốc, cộng hoặc trừ các khoản phân bổ lũy kế tính theo phương pháp lãi suất thực tế của phần chênh lệch giữa giá trị ghi nhận ban đầu và giá trị đáo hạn, trừ đi các khoản giảm trừ (trực tiếp hoặc thông qua việc sử dụng một tài khoản dự phòng) do giảm giá trị hoặc do không thể thu hồi.").

4.2. Kế toán phòng ngừa rủi ro Hedge Accounting và Công cụ phái sinh

Kế toán phòng ngừa rủi ro (Hedge Accounting) là một công cụ quan trọng trong Chuẩn mực Kế toán Quốc tế về Công cụ Tài chính, đặc biệt là với sự phức tạp của công cụ tài chính phái sinh. Mục tiêu của Hedge Accounting là phản ánh một cách nhất quán hơn các giao dịch phòng ngừa rủi ro trên Báo cáo tài chính, giúp giảm sự biến động trong Lợi nhuận và lỗ (P&L). Nếu không áp dụng Hedge Accounting, công cụ tài chính phái sinh thường được ghi nhận theo Giá trị hợp lý với mọi thay đổi được ghi nhận trực tiếp vào P&L, điều này có thể tạo ra sự biến động lớn không mong muốn nếu tài sản hoặc khoản mục được phòng ngừa lại được đo lường theo phương pháp khác (ví dụ: Chi phí phân bổ). IFRS 9 đã đơn giản hóa các yêu cầu về Hedge Accounting so với IAS 39, tập trung vào việc liên kết kế toán với các hoạt động quản lý rủi ro thực tế của doanh nghiệp. Để đủ điều kiện áp dụng Hedge Accounting, mối quan hệ phòng ngừa rủi ro phải được tài liệu hóa rõ ràng, hiệu quả phòng ngừa rủi ro phải được đánh giá liên tục, và công cụ phái sinh phải thực sự được sử dụng để phòng ngừa rủi ro cụ thể (rủi ro giá trị hợp lý, rủi ro dòng tiền hoặc rủi ro đầu tư ròng nước ngoài). (Trích dẫn: "Kế toán phòng ngừa rủi ro là một công cụ giúp các tổ chức quản lý và báo cáo các rủi ro liên quan đến biến động giá trị hợp lý của các tài sản tài chính hoặc dòng tiền tương lai.").

V. Kinh nghiệm quốc tế và Lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam

Việc vận dụng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế về Công cụ Tài chính tại các Tổ chức tín dụng (TCTD) ở Việt Nam có thể học hỏi nhiều từ kinh nghiệm của các quốc gia khác. Các nước phát triển như Mỹ và Châu Âu đã có nền tảng thị trường tài chính và hệ thống pháp luật vững chắc, giúp việc chuyển đổi sang IFRS tương đối thuận lợi. Tuy nhiên, các quốc gia đang phát triển như Tanzania lại gặp nhiều thách thức tương tự Việt Nam. Một trong những bài học quan trọng từ Tanzania là khó khăn trong việc xác định Giá trị hợp lý (Fair Value) của các công cụ tài chính do thị trường còn nhỏ bé và thiếu dữ liệu đáng tin cậy. Vấn đề công cụ tài chính phái sinh kèm theo trong các hợp đồng cũng là một điểm phức tạp, đòi hỏi các Ngân hàng phải rà soát kỹ lưỡng các hợp đồng để nhận diện và hạch toán đúng. Đặc biệt, Dự phòng rủi ro tín dụng theo Mô hình tổn thất tín dụng kỳ vọng (ECL) của IFRS 9 (thay thế IAS 39) là một thay đổi lớn, yêu cầu các TCTD phải có khả năng phân tích sâu hơn, sử dụng các chỉ số mặc định lịch sử và chứng minh tính hợp lệ của các đánh giá. (Trích dẫn: "Kinh nghiệm đã chỉ ra rằng hầu hết các ngân hàng trong nuớc có thống kê thiệt hại không đủ để tính toán xác suất mất mát và để uớc luợng dòng tiền trong tuơng lai."). Để thành công trong việc áp dụng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế về Công cụ Tài chính, Việt Nam cần xây dựng một Lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam hợp lý, không nóng vội, phù hợp với điều kiện thực tế của các TCTD. Điều này bao gồm việc hoàn thiện thị trường tài chính, ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn và sửa đổi các quy định hiện hành để tránh xung đột pháp lý (ví dụ: giữa IFRS 9 và quy định về dự phòng rủi ro của Ngân hàng Nhà nước). Đồng thời, việc đẩy mạnh truyền thông và đào tạo để nâng cao nhận thức và năng lực cho đội ngũ kế toán viên là cực kỳ cần thiết. Quá trình chuyển đổi sang IFRS không chỉ là thay đổi về kỹ thuật kế toán mà còn là sự thay đổi về tư duy quản trị rủi rocông bố thông tin (Disclosure), đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ từ Chính phủ, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và các doanh nghiệp.

5.1. Bài học từ các Ngân hàng và Tổ chức tín dụng nước ngoài

Kinh nghiệm từ các Ngân hàngTổ chức tín dụng (TCTD) quốc tế cho thấy việc chuyển đổi sang Chuẩn mực Kế toán Quốc tế về Công cụ Tài chính (IFRS 9, IAS 32, IFRS 7) là một quá trình phức tạp. Các nước phát triển như Mỹ và Châu Âu, với thị trường tài chính hoàn thiện, vẫn đối mặt với những thách thức nhất định, đặc biệt là trong việc xử lý công cụ tài chính phái sinh và các yêu cầu về ghi nhận công cụ tài chính theo Giá trị hợp lý (Fair Value). Bài học quý giá từ Tanzania, một quốc gia đang phát triển tương đồng với Việt Nam, chỉ ra những khó khăn thực tiễn như việc thiếu dữ liệu thị trường để xác định Giá trị hợp lý và sự phức tạp trong việc nhận diện công cụ tài chính phái sinh kèm theo. (Trích dẫn: "Thách thức lớn đối với các công cụ tài chính kèm theo là nhận diện các công cụ tài chính phái sinh đuợc ẩn trong các hợp đồng bình thuờng."). Ngoài ra, việc xây dựng Mô hình tổn thất tín dụng kỳ vọng (ECL) theo IFRS 9 là một trở ngại lớn, do yêu cầu về dữ liệu lịch sử và khả năng mô hình hóa dự phòng rủi ro tín dụng. Các TCTD nước ngoài phải đầu tư lớn vào công nghệ thông tin và đào tạo nhân lực để đáp ứng các yêu cầu này, đặc biệt là trong việc công bố thông tin (Disclosure) về rủi ro tài chính. Việc không chuẩn bị kỹ lưỡng có thể dẫn đến chậm trễ và biến động không mong muốn trong Lợi nhuận và lỗ (P&L).

5.2. Giải pháp đẩy mạnh áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế tại Việt Nam

Để đẩy mạnh áp dụng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế về Công cụ Tài chính tại Việt Nam, cần có một Lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam rõ ràng và các giải pháp đồng bộ. Thứ nhất, cần hoàn thiện thị trường tài chính, tạo điều kiện cho việc xác định Giá trị hợp lý (Fair Value) của các công cụ tài chính một cách đáng tin cậy. Một thị trường năng động với thanh khoản cao sẽ là cơ sở quan trọng. (Trích dẫn: "Thứ nhất, hoàn thiện thị trường tài chính, xây dựng một thị trường “năng động” và “đầy đủ”."). Thứ hai, Chính phủ và Bộ Tài chính cần ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn chi tiết, đồng thời sửa đổi các quy định hiện hành của chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) để đảm bảo tính đồng bộ và tránh xung đột với IFRS 9, IAS 32, IFRS 7. Thứ ba, quá trình áp dụng cần có lộ trình hợp lý, không nên nóng vội, có thể thực hiện từng bước hoặc từng cấu phần của chuẩn mực, phù hợp với khả năng của từng Tổ chức tín dụng (TCTD)doanh nghiệp. Cuối cùng, cần đẩy mạnh công tác truyền thông, đào tạo và nâng cao năng lực cho đội ngũ kế toán viên, kiểm toán viên về IFRS nói chung và công cụ tài chính nói riêng. Sự hiểu biết đầy đủ sẽ giúp giảm thiểu rủi ro và tăng cường sự minh bạch trong Báo cáo tài chính, đặc biệt là về rủi ro tín dụngsuy giảm giá trị (Impairment).

VI. Tương lai Chuẩn mực Kế toán Quốc tế Hướng tới minh bạch thông tin tài chính

Tương lai của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế về Công cụ Tài chính tiếp tục hướng tới mục tiêu cung cấp thông tin tài chính minh bạch, đáng tin cậy và có thể so sánh được trên phạm vi toàn cầu. Với sự ra đời của IFRS 9, hệ thống chuẩn mực đã được cải thiện đáng kể, đặc biệt trong việc xử lý rủi ro tín dụng thông qua Mô hình tổn thất tín dụng kỳ vọng (ECL) và đơn giản hóa kế toán phòng ngừa rủi ro (Hedge Accounting). Những cải tiến này không chỉ giúp các doanh nghiệpNgân hàng phản ánh tình hình tài chính một cách trung thực hơn mà còn hỗ trợ các nhà đầu tư đưa ra quyết định sáng suốt. Việc công bố thông tin (Disclosure) chi tiết theo IFRS 7 về bản chất và mức độ rủi ro từ các công cụ tài chính là một yếu tố then chốt, cung cấp cái nhìn sâu sắc về chiến lược quản lý rủi ro của tổ chức. Trong bối cảnh kinh tế số và sự xuất hiện liên tục của các công cụ tài chính phái sinh mới, IASB (Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế) sẽ tiếp tục xem xét và cập nhật các chuẩn mực để đảm bảo chúng vẫn phù hợp và hiệu quả. Các Tổ chức tín dụng (TCTD) tại Việt Nam, trong quá trình hội nhập, cần xem việc tuân thủ IFRS là một cơ hội để nâng cao năng lực quản trị, tăng cường uy tín trên thị trường quốc tế và thu hút đầu tư. Sự minh bạch trong Báo cáo tài chính về tài sản tài chính, nợ phải trả tài chính, và vốn chủ sở hữu là lợi thế cạnh tranh quan trọng. Đồng thời, việc áp dụng thành công Chuẩn mực Kế toán Quốc tế về Công cụ Tài chính cũng là nền tảng để phát triển một thị trường tài chính Việt Nam hiện đại và hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới. Điều này đòi hỏi sự cam kết mạnh mẽ từ các nhà hoạch định chính sách, sự đầu tư vào công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng thích ứng với những thay đổi liên tục của các chuẩn mực quốc tế. (Trích dẫn: "Các yêu cầu về công bố thông tin quản lý rủi ro sẽ cung cấp cho nguời dùng một sự hiểu biết tốt hơn về các tác động của chiến luợc quản lý rủi ro trong công ty.")

6.1. Lợi ích của việc tuân thủ IFRS về công cụ tài chính

Việc tuân thủ Chuẩn mực Kế toán Quốc tế về Công cụ Tài chính mang lại nhiều lợi ích chiến lược cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các Ngân hàngTổ chức tín dụng (TCTD). Thứ nhất, nó tăng cường tính minh bạch và độ tin cậy của Báo cáo tài chính, giúp các nhà đầu tư, chủ nợ và các bên liên quan dễ dàng đánh giá tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh. Điều này đặc biệt quan trọng khi doanh nghiệp tìm kiếm nguồn vốn từ thị trường quốc tế hoặc niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán. Thứ hai, việc áp dụng IFRS 9 với Mô hình tổn thất tín dụng kỳ vọng (ECL) thúc đẩy quản trị rủi ro tín dụng chủ động và hiệu quả hơn, từ đó nâng cao chất lượng danh mục tài sản tài chính. Thứ ba, IFRS tạo ra một ngôn ngữ kế toán chung, giúp so sánh hiệu quả hoạt động giữa các doanh nghiệp và các quốc gia, từ đó nâng cao vị thế và uy tín của doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế. Cuối cùng, các yêu cầu công bố thông tin (Disclosure) chi tiết theo IFRS 7 giúp cải thiện quyết định quản lý nội bộ, vì ban lãnh đạo có cái nhìn sâu sắc hơn về các rủi ro và cơ hội liên quan đến công cụ tài chính.

6.2. Các khuyến nghị chính sách cho quá trình hội nhập IFRS

Để quá trình hội nhập Chuẩn mực Kế toán Quốc tế về Công cụ Tài chính tại Việt Nam diễn ra thành công, cần có các khuyến nghị chính sách cụ thể. Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS), giảm thiểu sự khác biệt với IFRS, đặc biệt là IAS 32, IFRS 7IFRS 9. Cần có lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam linh hoạt, có thể cho phép các doanh nghiệpTổ chức tín dụng (TCTD) áp dụng từng phần hoặc theo giai đoạn để giảm áp lực chuyển đổi. (Trích dẫn: "Vì vậy, để triển khai những chuẩn mực này, các cơ quan Nhà nước cần phân tích tình hình, điều kiện thực tế của các TCTD từ đó nghiên cứu, xây dựng lộ trình thực hiện, có thể thực hiện dần dần từng cấu phần của các chuẩn mực trên."). Đồng thời, cần tăng cường đào tạo chuyên sâu về kế toán công cụ tài chính, Mô hình tổn thất tín dụng kỳ vọng (ECL), kế toán phòng ngừa rủi ro (Hedge Accounting)đo lường giá trị hợp lý cho đội ngũ kế toán, kiểm toán và quản lý rủi ro. Chính sách cần khuyến khích đầu tư vào hệ thống công nghệ thông tin đủ mạnh để xử lý dữ liệu phức tạp theo yêu cầu của IFRS 9. Cuối cùng, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp để giải quyết các vướng mắc phát sinh trong thực tiễn, đảm bảo sự chuyển đổi suôn sẻ và hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng Báo cáo tài chính quốc gia.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

30/09/2025
1644 vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế về công cụ tài chính vào hạch toán kế toán tại các tổ chức tín dụng tại vn luận văn thạc sỹ file word

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 KẾ TOÁN CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH TRONG CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO CHUẨN MựC KẾ TOÁN QUỐC TẾ 1. CHUẨN MựC KẾ TOÁN QUỐC TẾ VỀ CÔNG CỤ TÀI CHÍNH ÁP DỤNG CHO CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1. Giới thiệu các Chuẩn mực kế toán quốc tế về công cụ tài chính 1. Chuẩn mực kế toán quốc tế “IAS 32-Các công cụ tài chính: Trình bày” Chuẩn mực kế toán quốc tế “IAS 32-Các công cụ tài chính: Trình bày” đua ra các yêu cầu kế toán cho việc trình bày các công cụ tài chính đặc biệt là việc phân loại các công cụ này thành các loại tài sản tài chính, các khoản nợ tài chính hay các công cụ vốn chủ sở hữu.

Chuẩn mực này cũng đua ra các huớng dẫn đối với việc phân loại các khoản lãi suất, cổ tức và các khoản lãi/lỗ liên quan cũng nhu các truờng hợp tài sản tài chính và các khoản nợ tài chính có thể đuợc bù trừ cho nhau. CMKT quốc tế IAS 32 có lịch sử hình thành từ cách đây 24 năm kể từ thang 9 năm 1991 khi IASB đua bản dự thảo E40 “Các công cụ tài chính” để thảo luận, bổ sung và điều chỉnh. Đến ngày 1 tháng 1 năm 1996, chuẩn mực IAS 32 chính thức đuợc ban hành và có hiệu lực. Kể từ đó, IASB tiếp tục đuợc sửa đổi, điều chỉnh cho phù hợp với các vấn đề phát sinh mới đối với công cụ tài chính thông qua các phiên bản điều chỉnh.

Lần điều chỉnh gần nhất đuợc thực hiện vào tháng 12 năm 2011 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2014 liên quan đến việc bù trừ giữa tài sản tài chính và các khoản nợ tài chính. Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế “IFRS 7-Các công cụ tài chính: Công bố thông tin” Đối với chuẩn mực báo cáo tài chính (BCTC) quốc tế “IFRS 7-Các công cụ tài chính: Công bố thông tin” thì bản dự thảo đuợc đua ra để thảo luận vào ngày 22 tháng 7 năm 2004. Đến ngày 18 tháng 8 năm 2005, IFRS 7 5 được ban hành và thay thế “IAS 30-Công bố trong báo cáo tài chính của các ngân hàng và các tổ chức tài chính tương tự” và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2007. Từ năm 2007 đến nay chuẩn mực IFRS 7 liên tục được chỉnh sửa, bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu của người sử dụng, và tạo ra sân chơi bình đẳng với US GAAP.

IFRS 7 đưa ra các yêu cầu về trình bày/công bố thông tin trên báo cáo tài chính để người sử dụng báo cáo có thể đánh giá được mức độ quan trọng của các công cụ tài chính cũng như bản chất, mức độ rủi ro của các công cụ tài chính mà tổ chức đang nắm giữ tại ngày báo cáo và cách thức quản trị các rủi ro này. Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế “IFRS 9-Các công cụ tài chính ” Chuẩn mực BCTC quốc tế “IFRS 9-Các công cụ tài chính” được IASB ban hành ngày 24 tháng 7 năm 2014, thay thế cho CMKT quốc tế “IAS 39- Các công cụ tài chính: Ghi nhận và Đo lường” do có nhiều ý kiến phản hồi từ những người sử dụng BCTC và các bên liên quan khác rằng IAS 39 quá khó hiểu và khó áp dụng trên thực tế. Theo đó, họ đã đệ trình lên Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) về việc cần thiết phải xây dựng một chuẩn mực báo cáo tài chính mới cho các công cụ tài chính, một chuẩn mực mang tính cơ bản và ít phức tạp hơn IAS 39. Để đáp ứng các yêu cầu này, IASB đã chia dự án thay thế IAS 39 thành ba giai đoạn chính, đánh dấu sự ra đời của các phiên bản IFRS năm 2009, 2010 và 2013.

Các phiên bản này thay thế từng phần của IAS 39 và thay thế hoàn toàn IAS 39 với sự ra đời của phiên bản IFRS 9 năm 2014. Phiên bản IFRS 9 ban hành năm 2014 thay thế cho tất cả các phiên bản IFRS 9 trước đó (IFRS 9 năm 2009, 2010 và 2013) và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2018. Chuẩn mực này đưa ra các yêu cầu đối với việc ghi nhận, đo lường, suy giảm giá trị, ngừng ghi nhận và kế toán việc tự bảo hiểm. Nội dung cơ bản của chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế về công cụ tài chính 1.

Khái niệm, phân loại và dấu hiệu nhận biết công cụ tài chính theo chuẩn mực quốc tế 6 a/Một số khái niệm về công cụ tài chính Công cụ tài chính là bất kỳ hợp đồng nào đó đem lại sự gia tăng một tài sản tài chính của doanh nghiệp này và một khoản nợ tài chính hoặc công cụ vốn chủ sở hữu cho một doanh nghiệp khác. Một công cụ tài chính có thể yêu cầu doanh nghiệp giao tiền hoặc tài sản tài chính khác, hoặc sẽ thanh toán nó theo cách nó là một khoản nợ tài chính, trong truờng hợp sẽ diễn ra hoặc không diễn ra các sự kiện nào đó trong tuơng lai (hoặc dựa trên tác động của một tình huống nào đó) mà chúng vuợt qua tầm kiểm soát của cả nhà phát hành và nguời nắm giữ công cụ tài chính, ví dụ nhu là: sự thay đổi trong chỉ số thị truờng chứng khoán, chỉ số giá cả tiêu dùng, lãi suất hoặc các yêu cầu về thuế hoặc các khoản thu nhập tuơng lai của nhà phát hành, lợi nhuận thuần hoặc tỷ suất nợ trên vốn. Tài sản tài chính là bất kỳ tài sản nào nằm trong danh mục sau: - Tiền mặt; - Một công cụ vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp khác; - Một quyền hợp đồng để: + Nhận tiền mặt hoặc một tài sản tài chính khác từ một doanh nghiệp khác; hoặc + Trao đổi tài sản tài chính hoặc các khoản nợ tài chính với doanh nghiệp khác theo những điều khoản có lợi cho doanh nghiệp; hoặc - Một hợp đồng sẽ (hoặc có thể) đuợc thanh toán bằng các công cụ vốn chủ sở hữu của chính tổ chức. Nợ phải trả tài chính là các nghĩa vụ sau: - Mang tính bắt buộc để: + Thanh toán tiền mặt hoặc tài sản tài chính cho đơn vị khác; + Trao đổi các tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính với đơn vị khác theo các điều kiện không có lợi cho đơn vị; hoặc 7 - Hợp đồng sẽ hoặc có thể được thanh toán bằng các công cụ vốn chủ sở hữu của đơn vị.

Công cụ vốn chủ sở hữu là bất kỳ hợp đồng nào đó mà chứng minh phần lợi ích còn lại trong các tài sản của tổ chức sau khi trừ đi tất cả các khoản nợ của nó. Nghĩa vụ phát hành công cụ vốn chủ sở hữu (VCSH) không phải là nghĩa vụ nợ tài chính do nghĩa vụ này dẫn đến việc làm tăng VCSH và không gây tổn thất cho doanh nghiệp. Công cụ tài chính phái sinh là một công cụ tài chính hoặc một hợp đồng thỏa mãn đồng thời ba đặc điểm sau: - Có giá trị thay đổi theo sự thay đổi của lãi suất, giá công cụ tài chính, giá hàng hóa, tỷ giá hối đoái, chỉ số giá cả hoặc lãi suất, xếp hạng tín dụng hoặc chỉ số tín dụng, hoặc các chỉ số khác với điều kiện trong trường hợp các chỉ số khác này là các biến số phi tài chính thì biến số đó không liên quan đến các bên tham gia hợp đồng (còn được gọi là các biến số cơ sở); - Không yêu cầu đầu tư thuần ban đầu hoặc yêu cầu đầu tư thuần ban đầu thấp hơn so với các loại hợp đồng khác có các phản ứng tương tự đối với sự thay đổi của các yếu tố thị trường; và - Được thanh toán vào một ngày trong tương lai. Giá trị hợp lý là giá trị mà một tài sản có thể được trao đổi, hoặc một khoản nợ phải trả có thể được thanh toán giữa các bên có đầy đủ hiểu biết, mong muốn giao dịch, trong một giao dịch trao đổi ngang giá.

Giá trị phân bổ của tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được xác định bằng giá trị ghi nhận ban đầu của tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính trừ đi các khoản hoàn trả gốc, cộng hoặc trừ các khoản phân bổ lũy kế tính theo phương pháp lãi suất thực tế của phần chênh lệch giữa giá trị ghi nhận ban đầu và giá trị đáo hạn, trừ đi các khoản giảm trừ (trực tiếp hoặc thông qua việc sử dụng một tài khoản dự phòng) do giảm giá trị hoặc do không thể thu hồi. 8 Phương pháp lãi suất thực tế là phương pháp tính toán giá trị phân bổ của một hoặc một nhóm tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính và phân bổ thu nhập lãi hoặc chi phí lãi trong kỳ có liên quan. Lãi suất thực tế là lãi suất chiết khấu các luồng tiền ước tính sẽ chi trả hoặc nhận được trong tương lai trong suốt vòng đời dự kiến của công cụ tài chính hoặc ngắn hơn, nếu cần thiết, trở về giá trị ghi sổ hiện tại thuần của tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính. b/Phân loại và dấu hiệu nhận biết của các công cụ tài chính Theo mục đích nắm giữ, các công cụ tài chính được phân loại thành các nhóm cơ bản sau: (i) Nhóm các tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (thường được gọi là Nhóm các tài sản tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua lãi lô) Nhóm này bao gồm các tài sản tài chính hoặc khoản nợ phải trả tài chính thỏa mãn một trong các điều kiện sau: - Tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được phân loại vào nhóm nắm giữ để kinh doanh.

Tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính được phân loại vào nhóm chứng khoán nắm giữ để kinh doanh, nếu: + Được mua hoặc tạo ra chủ yếu cho mục đích bán lại/ mua lại trong thời gian ngắn; + Có bằng chứng về việc kinh doanh công cụ đó nhằm mục đích thu lợi ngắn hạn; hoặc - Công cụ tài chính phái sinh (ngoại trừ các công cụ tài chính phái sinh được xác định là một hợp đồng bảo lãnh tài chính hoặc một công cụ phòng ngừa rủi ro hiệu quả).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ