Tổng quan nghiên cứu

Ngành chè Việt Nam giữ vị thế xuất khẩu thứ 5 toàn cầu với sản lượng xuất khẩu đạt 146,7 nghìn tấn, mang lại kim ngạch 224,6 triệu USD trong năm 2012. Tuy nhiên, giá chè xuất khẩu bình quân của Việt Nam chỉ đạt khoảng 1.531 USD/tấn, tương đương 60% đến 70% mức giá trung bình của thị trường thế giới. Nghịch lý này bắt nguồn từ việc hơn 90% sản lượng nguyên liệu phụ thuộc vào các hộ nông dân canh tác manh mún và chỉ 5% trong tổng số hơn 300 cơ sở chế biến sở hữu vùng nguyên liệu đạt chuẩn. Phần lớn các cơ sở sản xuất chế biến là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) với thiết bị công nghệ cũ kỹ, mang tính chắp vá và tỷ lệ lao động có trình độ công nghệ tương xứng chỉ dừng ở mức 32%.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là các rào cản tài chính đang kìm hãm trực tiếp năng lực đầu tư, chuyển giao và hiện đại hóa dây chuyền công nghệ tại các doanh nghiệp. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ của tác giả Lê Phương tập trung giải quyết bài toán: Xây dựng và hoàn thiện chính sách hỗ trợ tài chính nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ cho các DNNVV ngành chè Việt Nam.

Nghiên cứu được triển khai trong phạm vi thời gian 10 năm, tập trung khảo sát không gian thực địa tại tỉnh Phú Thọ và Yên Bái, lấy Công ty TNHH Chè Á Châu làm trường hợp điển hình. Đóng góp của luận văn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống luận cứ khoa học giúp cơ quan quản lý điều chỉnh chính sách thuế, tín dụng ưu đãi và tối ưu hóa cơ chế giải ngân của các quỹ tài chính khoa học công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao từ 15% đến 25% giá trị gia tăng và khẳng định vị thế chè Việt trên thị trường quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết chính sách công của James E. Anderson và hệ thống phương pháp luận quản lý khoa học công nghệ của Giáo sư Vũ Cao Đàm. Chính sách được tiếp cận như một tập hợp biện pháp thể chế hóa nhằm phân bổ nguồn lực ưu đãi, kích thích động cơ đổi mới của nhóm chủ thể kinh tế mục tiêu. Cấu trúc công nghệ được phân tích toàn diện theo mô hình 4 thành phần của ESCAP và tác giả Trần Ngọc Ca, bao gồm: Kỹ thuật vật tư (Technoware), Con người (Humanware), Thông tin (Inforware) và Tổ chức quản lý (Orgaware).

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng Khung hướng dẫn Oslo (Oslo Manual) để phân loại 4 hình thức đổi mới: đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình, đổi mới tiếp thị và đổi mới tổ chức. Khái niệm DNNVV được chuẩn hóa theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP và Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ, xác định nhóm doanh nghiệp có vốn đăng ký dưới 20 đến 100 tỷ đồng hoặc lao động bình quân dưới 200 đến 300 người. Hệ thống chính sách tài chính hỗ trợ đổi mới công nghệ được cụ thể hóa qua 3 trụ cột: cơ chế trích lập tối đa 10% thu nhập tính thuế vào Quỹ phát triển KH&CN tại doanh nghiệp, chính sách tín dụng ưu đãi từ Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia và các gói miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu máy móc.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu định vị có chủ đích (purposive sampling) với cỡ mẫu gồm 10 DNNVV sản xuất chế biến chè là đối tác chiến lược của Công ty TNHH Chè Á Châu tại hai vùng nguyên liệu trọng điểm Phú Thọ và Yên Bái. Cùng với đó, tác giả thực hiện phỏng vấn chuyên sâu 20 cán bộ quản lý cấp cao, giám đốc tài chính và kỹ sư trưởng phụ trách vận hành dây chuyền công nghệ.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích chính sách kết hợp điều tra điển cứu thực chứng nhằm bảo đảm tính xác thực cao giữa các điều khoản văn bản pháp quy với khả năng hấp thụ tài chính thực tế của doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ hệ thống văn bản pháp luật, báo cáo thường niên của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hiệp hội Chè Việt Nam và số liệu thống kê chu kỳ 10 năm. Toàn bộ dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được xử lý qua phương pháp so sánh, tổng hợp logic và thống kê mô tả để chỉ rõ các điểm nghẽn thể chế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã làm rõ 4 phát hiện thực tiễn quan trọng về thực trạng đổi mới công nghệ và hỗ trợ tài chính tại các DNNVV ngành chè:

Thứ nhất, khả năng trích lập và khai thác các Quỹ phát triển KH&CN gần như bị tê liệt. Mặc dù hành lang pháp lý cho phép trích lập tới 10% thu nhập tính thuế, gần 100% DNNVV khảo sát không lập quỹ do biên lợi nhuận ròng thấp dưới 5% và quy định thủ tục thanh quyết toán quá phức tạp, tiềm ẩn rủi ro xử phạt thuế.

Thứ hai, tiếp cận tín dụng thương mại và tín dụng ưu đãi gặp rào cản tài sản thế chấp nghiêm trọng. Hơn 80% doanh nghiệp chè tư nhân không thể tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn để thay thế máy móc cũ vì nhà xưởng trên đất nông nghiệp không đủ điều kiện pháp lý làm tài sản bảo đảm, trong khi Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV cấp tỉnh vận hành kém hiệu quả với tỷ lệ giải ngân thực tế dưới 10%.

Thứ ba, công nghệ chế biến chè lạc hậu dẫn tới tỷ lệ tổn thất giá trị cao. Tỷ lệ xuất khẩu chè thô chiếm hơn 85% tổng sản lượng, giá chè xuất khẩu bình quân năm 2012 chỉ đạt 1.531 USD/tấn, thấp hơn gần 40% so với giá bình quân thế giới là 2,5 USD/kg. Trình độ tay nghề kỹ thuật của người lao động tại các cơ sở chỉ đạt 32%, dẫn đến tình trạng thiết bị nhập về không phát huy tối đa công suất.

Thứ tư, chính sách thuế chưa tạo động lực đổi mới công nghệ thực chất. Các ưu đãi thuế nhập khẩu dây chuyền công nghệ tiên tiến chỉ tiếp cận được ở 10% doanh nghiệp lớn; các DNNVV chủ yếu mua sắm máy móc tự chế, chắp vá trong nước nên không được thụ hưởng ưu đãi thuế TNDN cho hoạt động đổi mới sáng tạo.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh sự mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư công nghệ tại các DNNVV. Thực trạng này có thể được mô tả rõ nét qua biểu đồ hình tròn về cơ cấu vốn đổi mới: nguồn vốn tự tích lũy của doanh nghiệp chiếm hơn 85%, vốn vay ngân hàng thương mại chiếm khoảng 15%, trong khi vốn tài trợ từ ngân sách và các quỹ KH&CN chiếm tỷ trọng xấp xỉ 0%. Đồng thời, bảng so sánh đa tiêu chí về giá xuất khẩu và tỷ lệ chế biến sâu giữa Việt Nam với các quốc gia như Sri Lanka và Kenya cho thấy khoảng cách công nghệ chính là nguyên nhân trực tiếp khiến sản phẩm Việt Nam bị ép giá từ 30% đến 40% trên thị trường quốc tế.

Nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ giữa cơ chế chính sách tài chính vĩ mô và đặc thù ngành nông nghiệp chế biến. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Trương Quang Thông về rào cản tín dụng do bất đối xứng thông tin, đồng thời mở rộng nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Hạnh khi khẳng định rằng nếu không có cơ chế bảo lãnh tín dụng dựa trên tính khả thi của dự án và dòng tiền tương lai, chính sách miễn giảm thuế sẽ hoàn toàn mất tác dụng đối với khối doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tháo gỡ điểm nghẽn tài chính và thúc đẩy hiện đại hóa công nghệ ngành chè, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Đơn giản hóa quy chế vận hành Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia: Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Bộ Tài chính cần ban hành thông tư liên tịch cắt giảm 50% thời gian thẩm định hồ sơ, chấp thuận cho phép DNNVV thế chấp bằng chính dây chuyền công nghệ hình thành từ vốn vay, đặt mục tiêu nâng tỷ trọng giải ngân vốn vay ưu đãi cho khối chế biến nông sản đạt tối thiểu 30% tổng nguồn vốn quỹ trong giai đoạn 2017 - 2020.

  2. Cải cách chính sách tín dụng và kích hoạt Quỹ bảo lãnh tín dụng: Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai gói tín dụng chuyên biệt cho ngành chè với lãi suất ưu đãi thấp hơn từ 2% đến 3%/năm so với thị trường; Ủy ban nhân dân các tỉnh Phú Thọ và Yên Bái cần nâng mức vốn điều lệ và tăng tỷ lệ bảo lãnh tín dụng lên 70% đến 80% giá trị dự án đổi mới công nghệ cho các DNNVV đủ điều kiện trong vòng 12 đến 24 tháng.

  3. Điều chỉnh cơ chế ưu đãi thuế gắn liền với R&D: Bộ Tài chính nghiên cứu cho phép doanh nghiệp được khấu trừ 150% chi phí thực tế dành cho hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ sạch và đào tạo nhân lực khi tính thuế TNDN; miễn 100% thuế nhập khẩu đối với trang thiết bị kiểm định nhanh dư lượng thuốc bảo vệ thực vật từ năm 2018.

  4. Xây dựng chuỗi liên kết và mạng lưới thông tin công nghệ: Hiệp hội Chè Việt Nam chủ trì kết nối doanh nghiệp đầu tàu như Công ty Chè Á Châu với các viện nghiên cứu và các DNNVV vệ tinh; cung cấp dịch vụ đánh giá trình độ công nghệ miễn phí cho 100% doanh nghiệp hội viên và chuyển đổi ít nhất 40% diện tích chè nguyên liệu sang tiêu chuẩn an toàn trong lộ trình 3 năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cán bộ tại Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có thể sử dụng các luận cứ thực tiễn để hoàn thiện cơ chế giải ngân quỹ KH&CN và thiết kế chính sách thuế hỗ trợ hơn 90% DNNVV nông nghiệp trên cả nước.

  2. Chủ doanh nghiệp và giám đốc tài chính ngành chế biến chè: Lãnh đạo các DNNVV có thể áp dụng mô hình quản trị công nghệ 4 thành phần, nắm bắt quy trình trích lập quỹ 10% thu nhập trước thuế hợp pháp và lập phương án vay vốn khả thi để hiện đại hóa dây chuyền sấy, chế biến tinh.

  3. Ngân hàng thương mại và các quỹ tài chính: Các chuyên viên thẩm định tín dụng có thể tham khảo ma trận rủi ro công nghệ ngành chè để thiết kế các sản phẩm tài trợ chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp xuất khẩu lớn và 10 đến 20 đối tác cung ứng vệ tinh.

  4. Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý KH&CN, Quản trị Kinh doanh và Kinh tế Nông nghiệp có thể sử dụng số liệu, mô hình phân tích điển cứu tại Phú Thọ và Yên Bái làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu mở rộng.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao giá chè xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt 60% đến 70% giá bình quân thế giới?
Nguyên nhân chủ yếu do hơn 85% sản lượng xuất khẩu dưới dạng thô, thiếu thương hiệu và chỉ 5% cơ sở chế biến sở hữu vùng nguyên liệu đạt chuẩn kiểm soát dư lượng hóa chất. Công nghệ sao sấy truyền thống làm suy giảm chất lượng hương vị, khiến giá xuất khẩu năm 2012 chỉ đạt 1.531 USD/tấn so với mức bình quân 2,5 USD/kg của thế giới.

Khó khăn tài chính lớn nhất kìm hãm DNNVV đổi mới công nghệ là gì?
Rào cản lớn nhất là thiếu tài sản thế chấp đạt chuẩn để vay vốn trung và dài hạn từ ngân hàng thương mại, chiếm tới hơn 80% trường hợp khảo sát. Trong khi đó, các quỹ tài chính KH&CN nhà nước đòi hỏi thủ tục phức tạp và tỷ lệ lao động kỹ thuật tại doanh nghiệp chỉ đạt 32%, gây e ngại rủi ro vận hành thiết bị mới.

Doanh nghiệp được trích lập Quỹ phát triển KH&CN như thế nào?
Theo quy định pháp luật hiện hành, doanh nghiệp được quyền chủ động trích lập tối đa 10% thu nhập tính thuế hàng năm trước khi tính thuế TNDN để lập quỹ đầu tư KH&CN nội bộ. Nguồn kinh phí này dùng để tài trợ cho hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, mua sắm máy móc thiết bị và đào tạo kỹ thuật viên.

Điểm mới nổi bật của luận văn thạc sĩ Lê Phương là gì?
Luận văn đã tích hợp thành công lý thuyết phân tích chính sách công với nghiên cứu thực chứng sâu tại 10 DNNVV ngành chè và Công ty Chè Á Châu. Đề tài lượng hóa rõ nét mối quan hệ giữa thể chế tài chính và mức độ hiện đại hóa công nghệ theo khung 4 thành phần T-H-I-O.

Doanh nghiệp chè cần làm gì để vượt qua rào cản dư lượng thuốc bảo vệ thực vật?
Doanh nghiệp cần ưu tiên nguồn vốn đầu tư công nghệ kiểm định nhanh, dây chuyền chế biến khép kín và liên kết chặt chẽ với nông hộ kiểm soát vùng trồng. Thực tế năm 2012 kim ngạch xuất khẩu sang thị trường khó tính như Mỹ tăng 81,67% cho thấy sản phẩm đạt chuẩn an toàn luôn có tiềm năng tăng trưởng vượt bậc.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chính sách tài chính thúc đẩy đổi mới công nghệ 4 thành phần (T-H-I-O) cho khối doanh nghiệp nhỏ và vừa.
  • Phân tích thực trạng ngành chè năm 2012 với kim ngạch 224,6 triệu USD nhưng giá trị gia tăng thấp do hơn 85% là chè thô và công nghệ chế biến lạc hậu.
  • Chỉ rõ 4 nút thắt tài chính cốt lõi từ khảo sát 10 DNNVV tại Phú Thọ, Yên Bái và trường hợp điển hình Công ty Chè Á Châu.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp khả thi với lộ trình 3 năm (2017 - 2020), trọng tâm là gói tín dụng ưu đãi giảm lãi suất 2% đến 3%/năm và đơn giản hóa 50% thủ tục quỹ KH&CN.
  • Xác lập cơ sở khoa học giúp nâng tỷ lệ lao động kỹ thuật từ 32% lên trên 50% và hỗ trợ chè Việt Nam thâm nhập sâu vào các thị trường cao cấp.

Luận văn thạc sĩ của Lê Phương là công trình nghiên cứu công phu, giải quyết trực tiếp bài toán thể chế tài chính nhằm tạo đòn bẩy công nghệ cho ngành nông sản Việt Nam. Quý độc giả, các nhà quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp hãy nghiên cứu toàn văn tài liệu để vận dụng hiệu quả các đề xuất chính sách và chiến lược tài chính công nghệ vào thực tiễn sản xuất kinh doanh.