Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu đề tài; Chương 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển các KDLQG Chương 3. Thực trạng chính sách phát triển các KDLQG thuộc vùng ĐBSH&DHĐB; Chương 4.
Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách phát triển các KDLQG thuộc vùng ĐBSH&DHĐB. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu đề tài 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Trong tổng quan tình hình nghiên cứu, NCS tổng hợp các công trình liên quan đến đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm 4 vấn đề: 1) KDL, KDLQG; 2) QLNN về du lịch; 3) Chính sách phát triển du lịch, chính sách phát triển KDL; và 4) Nghiên cứu về du lịch tại vùng du lịch ĐBSH&DHĐB.
Khu du lịch, khu du lịch quốc gia Hiện nay, Việt Nam đang và sẽ tiếp tục hình thành, phát triển các KDL và KDLQG. Các KDL này thường gắn với các địa danh lịch sử, các vùng kinh tế theo một chiến lược và quy hoạch quốc gia hoặc địa phương. Trong thời gian vừa qua, đã có một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về KDL, KDLQG. Các công trình nghiên cứu này đã đưa ra cách nhìn tổng quát về KDL và KDLQG, những tác động của các KDL đối với tài nguyên thiên nhiên và kinh tế xã hội tại khu vực đó.
Những công trình này chủ yếu dưới dạng các bài báo khoa học, các đề tài nghiên cứu, một số sách chuyên khảo và tham khảo. Trên thế giới, các tác giả thường nghiên cứu khái quát về sự phát triển du lịch tại KDL hoặc vùng du lịch ở nước ngoài và các vấn đề liên quan đến sự phát triển đó. Các công trình nghiên cứu đã khái quát bức tranh phát triển của các KDL, kinh nghiệm phát triển của các nước và vùng lãnh thổ trong quá trình hình thành và hoạt động của các KDL. Cụ thể như các giai đoạn phát triển KDL vùng ngoại ô, ven biển hoặc khu nghỉ mát tại các các quốc gia như Mỹ, Canada, Trung Quốc, Đức, Úc,.
và mối quan hệ giữa chính phủ và địa phương trong phát triển KDL như lập chính sách, xây dựng kế hoạch và giải quyết các tác động trong kinh doanh du lịch tại địa phương. Đây là các nội dung chính trong các công trình “Tourism in Developing Countries” của hai tác giả Martin Oppermann và Kye - Sung Chon (1997) và “The Business of Rural Tourism International Perspectives” của tác giả Stephen J. Page và Don Getz (1997). Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu trong thời gian vừa qua cũng đã khái quát được những vấn đề lớn về KDL, vai trò và điều kiện hình thành, phát triển các KDL Việt Nam, các KDL biển quốc gia và các KDL nói chung.
Bên cạnh đó, các công trình đã đúc kết được những kinh nghiệm thực tiễn phát triển các KDL khác nhau tại các quốc gia điển hình trên thế giới để từ đó tổng kết, đúc kết thành những 8 bài học kinh nghiệm quý giá trong khai thác và phát triển du lịch tại các KDL của Việt Nam. Có thể kể đến như đề tài NCKH cấp Bộ của VNCPTDL năm 2004 về “Phương hướng phát triển du lịch - Nghiên cứu xây dựng tiêu chí các khu, tuyến, điểm du lịch ở Việt Nam” đã tổng hợp hệ thống lý luận về khu, tuyến, điểm du lịch, trong đó đề cập đến cách tiếp cận về KDL như một địa điểm nghỉ dưỡng; vai trò, ý nghĩa của các KDL đối với sự phát triển của du lịch Việt Nam; Các điều kiện để hình thành, phát triển và quản lý các KDL; Những nhóm tiêu chí chính để xây dựng KDL. Đúc kết kinh nghiệm thực tiễn của một số nước trong việc xác định tiêu chí xây dựng các KDL (chủ yếu nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước như Trung Quốc, Thái Lan, Hoa Kỳ.) làm cơ sở cho việc xác định tiêu chí xác định và quản lý các KDL ở Việt Nam. Cùng cách tiếp cận đó, đề tài NCKH cấp Bộ của VNCPTDL (tác giả Lê Văn Minh) năm 2006 về “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đầu tư phát triển KDL” phân tích ở góc độ sâu hơn về đầu tư phát triển KDL.
Đề tài đã tổng hợp kinh nghiệm của một số quốc gia điển hình trong việc quản lý tài nguyên và phát triển du lich, trong đầu tư phát triển KDL, trong việc huy động sự tham gia của cộng đồng để phát triển du lịch tại các KDL. Đề tài NCKH cấp Bộ của VNCPTDL năm 2011 về “Hiện trạng và giải pháp phát triển các KDL biển quốc gia tại vùng du lịch Bắc Trung bộ” lại tiếp cận ở góc độ rộng hơn là một khu vực địa lý du lịch, trong đó tiến hành tổng hợp và hệ thống những vấn đề cơ sở lý luận về phát triển KDL biển, đánh giá đặc điểm các KDLQG biển tại vùng du lịch Bắc Trung Bộ và các nhân tố tác động đến nó trong quá trình phát triển, đồng thời cũng tiến hành tổng kết kinh nghiệm phát triển của một số KDLQG biển nước ngoài. Ngoài việc đưa ra những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý và phát triển các KDL nói chung và một số KDL đặc trưng, như KDL biển, những đề tài nói trên cũng đã tiến hành nghiên cứu và đánh giá thực trạng phát triển du lịch tại các KDL cụ thể và đưa ra các nhóm giải pháp phù hợp. Cụ thể, đề tài NCKH cấp Bộ của VNCPTDL năm 2004 về “Phương hướng phát triển du lịch - Nghiên cứu xây dựng tiêu chí các khu, tuyến, điểm du lịch ở Việt Nam”, đề tài NCKH cấp Bộ của VNCPTDL năm 2011 về “Hiện trạng và giải pháp phát triển các KDL biển quốc gia tại vùng du lịch Bắc Trung bộ”, đề tài NCKH cấp Bộ của VNCPTDL năm 2006 về “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đầu tư phát triển KDL”,.
Quản lý nhà nước về du lịch QLNN và nâng cao vai trò của QLNN về du lịch có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Chính vì thế, trong thời gian vừa qua đã có rất nhiều các các công trình nghiên cứu về QLNN về du lịch. 9 Trên thế giới, các công trình cụ thể của các tác giả David Jeffries (2007) trong cuốn “Governments and Tourism”, tác giả HwanSuk Chris Choi và Ercan Sirakaya (2006) trong bài viết “Sustainability indicators for managing community tourism”, tác giả Arvid Flagestad và Christine A. Hope (2001) trong bài báo “Strategic success in winter sports destinations: a sustainable value creation perspective”,… đã đề cập tới các vấn đề có liên quan đến vai trò QLNN từ TW đến địa phương, bao gồm các vấn đề: Cách thức mà các quốc gia và vùng khác nhau đối phó với những cơ hội và nguy cơ do du lịch gây ra; Cách thức nhận định những cơ hội và thách thức từ hoạt động du lịch; Những bài học kinh nghiệm nào có thể được áp dụng ở những quốc gia và vùng khác; Chức năng bổ sung của khu vực công và tư nhân trong ngành du lịch.
Không chỉ bao gồm các vấn đề chung liên quan đến vai trò của Chính phủ, trong các nghiên cứu khác mà còn đề cập đến những vấn đề cụ thể thể hiện vai trò QLNN đối với hoạt động du lịch tại mỗi quốc gia, mỗi vùng. Các vấn đề được đề cập bao gồm: công tác xã hội hóa hoạt động du lịch, phát triển du lịch dựa trên cộng đồng hay xã hội hóa du lịch là một trong những chủ trương, định hướng quan trọng của Nhà nước trong quản lý các hoạt động du lịch quốc gia và hoạt động du lịch tại các địa phương khác nhau; Phát triển du lịch bền vững nhằm đảm bảo phát triển thành công điểm đến du lịch cũng như KDL,… Tại Việt Nam, các công trình phân tích chủ yếu dựa trên một số nội dung cơ bản sau: Về vai trò của Nhà nước trong phát triển du lịch, để phát triển du lịch bền vững cần có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước. Vai trò quản lý và điều tiết được thể hiện thông qua các vấn đề cơ bản như: tăng cường khả năng cạnh tranh của các công ty địa phương, tạo ra các cơ hội đầu tư kinh doanh mới, xoá bỏ các rào cản hoạt động không hiệu quả, tạo ra lợi thế cho vùng và các doanh nghiệp trong vùng trong phát triển du lịch (Luận án tiến sĩ của Nguyễn Mạnh Cường (2015), ĐH Kinh tế quốc dân về “Vai trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong phát triển du lịch bền vững tỉnh”). Trong quản lý nhà nước về du lịch, ngoài việc thể hiện vai trò trong phát triển du lịch, thì các góc độ tiếp cận về kinh tế, pháp luật hay các yếu tố đảm bảo an toàn cho du khách và sự phát triển du lịch cũng được coi là những công cụ rất quan trọng.
Ở góc độ pháp luật, luận án tiến sĩ của Trịnh Đăng Thanh (2004), QLNN bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch ở Việt Nam hiện nay, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, đã đưa ra cơ sở lý luận về sự cần thiết phải QLNN bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch; phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch trước yêu cầu mới. Qua luận án, tác giả đã nghiên cứu khái quát các vấn đề QLNN đối với hoạt động du lịch nói chung và ở từng địa phương nói riêng. Trong khi đó, đề tài NCKH cấp Bộ 10 của VNCPTDL (2006) về “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo an toàn cho khách du lịch tại Việt Nam” lại tiếp cận QLNN nhằm đảm bảo an toàn xã hội tại Việt Nam. Trong luận án, tác giả đã tiến hành tổng quan các vấn đề lý luận về an toàn của khách du lịch; Tổng hợp kinh nghiệm của một số quốc gia, một số địa phương, KDL ở Việt Nam trong việc đảm bảo an toàn cho khách du lịch (Nghiên cứu một số biện pháp đã được áp dụng tại một số quốc gia; một số địa phương; khu, điểm du lịch ở Việt Nam trong việc đảm bảo an toàn cho khách du lịch).
Tác giả cũng đã đánh giá thực trạng vấn đề an toàn của khách du lịch ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp vĩ mô từ Nhà nước nhằm đảm bảo an toàn cho khách du lịch ở Việt Nam. Về kinh tế, vai trò QLNN rất quan trọng để thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của kinh tế du lịch.