Tổng quan về luận án
Ngành du lịch và lữ hành toàn cầu trong giai đoạn tiền đại dịch đã khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng kinh tế then chốt khi đóng góp 10,3% GDP toàn cầu, tạo ra 330 triệu việc làm (chiếm xấp xỉ 1/10 tổng số việc làm toàn cầu) và đạt tốc độ tăng trưởng 3,5%, vượt trội so với mức tăng trưởng 2,5% của nền kinh tế thế giới năm 2019. Tại Việt Nam, Chiến lược phát triển du lịch đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 cùng Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ đã định hình chiến lược phát triển không gian du lịch quốc gia thành 7 vùng kinh tế du lịch trọng điểm. Trong đó, vùng Du lịch Đồng bằng Sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc (ĐBSH&DHĐB) gồm 11 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng, Quảng Ninh) giữ vị thế đầu tàu về kinh tế, văn hóa và di sản. Theo Quyết định số 2163/QĐ-TTg, vùng được quy hoạch 9 khu du lịch quốc gia (KDLQG) trọng điểm bao gồm: Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam, Ba Vì – Suối Hai, Tam Đảo, Tam Chúc, Côn Sơn – Kiếp Bạc, Hạ Long – Cát Bà, Vân Đồn, Trà Cổ và Tràng An.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) thực tiễn và lý luận nổi bật là: Mặc dù sở hữu mật độ tài nguyên du lịch dày đặc và nằm trong quy hoạch phát triển cấp quốc gia, nhưng tính đến tháng 7/2021, toàn vùng mới chỉ có duy nhất 01 KDLQG được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận chính thức theo Quyết định số 1501/QĐ-BVHTTDL ngày 24/4/2019 là KDLQG Trà Cổ (thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh); 8 KDLQG còn lại vẫn ở trạng thái quy hoạch phân tán hoặc chưa hoàn thiện bộ tiêu chí công nhận. Hệ thống chính sách quản lý nhà nước hiện hành thiếu vắng khung chính sách đặc thù cho KDLQG và cấp vùng, chủ yếu vận hành phân mảnh theo địa giới hành chính tỉnh. Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Quản lý kinh tế (mã số: 9340410) của tác giả Dương Thị Hồng Nhung tại Trường Đại học Thương mại, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Nguyên Hồng và TS. Trần Thị Bích Hằng, được thực hiện nhằm giải quyết trực diện khoảng trống học thuật và thực tiễn này.
Luận án thiết lập 3 câu hỏi nghiên cứu cốt lõi:
- Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về chính sách phát triển các KDLQG tại các vùng du lịch có những nội dung, quy trình và bài học nào có thể vận dụng cho vùng ĐBSH&DHĐB?
- Thực trạng nội dung 8 chính sách phát triển du lịch và quy trình chính sách tại các KDLQG vùng ĐBSH&DHĐB giai đoạn 2015–2019 chịu sự chi phối của những nhân tố vĩ mô và vi mô cấp tỉnh nào?
- Quan điểm, định hướng và hệ thống giải pháp, kiến nghị đột phá nào cần được triển khai để hoàn thiện chính sách phát triển KDLQG vùng ĐBSH&DHĐB đến năm 2025, tầm nhìn 2030?
Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự giao thoa giữa Lý thuyết Chu trình Chính sách công (Public Policy Cycle Theory), Lý thuyết Các bên liên quan (Stakeholder Theory) và Lý thuyết Quản trị Điểm đến Du lịch Bền vững (Sustainable Destination Governance). Luận án khảo sát toàn diện không gian 9 KDLQG thuộc 11 tỉnh thành, sử dụng dữ liệu thực chứng giai đoạn 2015–2019, đối chiếu bối cảnh 2020 và xây dựng kịch bản dự báo phát triển đến năm 2030, mang lại đóng góp quan trọng cho công tác quản trị kinh tế du lịch cấp vùng tại Việt Nam.
Literature Review và Positioning
Tổng quan y văn quốc tế và trong nước về quản trị phát triển du lịch cho thấy 4 dòng nghiên cứu (research streams) chính:
- Dòng 1: Quản trị phát triển điểm đến và KDL: Các công trình kinh điển của Oppermann & Chon (1997) trong "Tourism in Developing Countries", Stephen J. Page & Don Getz (1997) trong "The Business of Rural Tourism International Perspectives" đã phân tích sâu sắc mối quan hệ đa tầng giữa chính phủ và địa phương trong việc hoạch định chính sách, phân vùng không gian KDL và quản lý xung đột tài nguyên. S. Medlik (1995) nhấn mạnh chính sách hỗ trợ là công cụ quản lý nhà nước tối cao định hình sự bền vững của các trung tâm nghỉ dưỡng.
- Dòng 2: Vai trò quản lý nhà nước và năng lực cạnh tranh điểm đến: David Jeffries (2007) trong "Governments and Tourism", Flagestad & Hope (2001), HwanSuk Chris Choi & Ercan Sirakaya (2006) và David Scowsill (2015) thiết lập các chỉ số đo lường năng lực can thiệp của chính phủ, thiết chế hợp tác công - tư (PPP) và các bộ tiêu chí phát triển bền vững cho KDL cộng đồng và nghỉ dưỡng cao cấp.
- Dòng 3: Đánh giá lượng hóa tác động kinh tế và tài khoản vệ tinh: Phan Thị Thu Hương (2016) và Nguyễn Thị Hương (2016) chuẩn hóa phương pháp đo lường tác động kinh tế của du lịch thông qua Tài khoản Vệ tinh Du lịch (TSA) và Hệ thống Tài khoản Quốc gia (SNA), chứng minh mối quan hệ giữa chính sách kích cầu tài chính với mức tăng trưởng GDP địa phương.
- Dòng 4: Nghiên cứu chính sách và sản phẩm du lịch vùng ĐBSH&DHĐB: Các đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (2004, 2006, 2011, 2014, 2015), Trần Thị Bích Hằng (2019), Nguyễn Đăng Tiến (2016), Nguyễn Văn Đức (2013), Chu Văn Yêm (2004), Đinh Thị Hải Hậu (2014), Trần Sơn Hải (2010), Trịnh Quang Hảo (2002) và Nguyễn Trùng Khánh (2012) tập trung vào tiêu chí quy hoạch KDL biển, phát triển sản phẩm đặc thù và liên kết dịch vụ lữ hành.
Trong y văn tồn tại hai cuộc tranh luận học thuật lớn:
- Tranh luận 1 (Can thiệp tập quyền vs. Phi tập trung hóa thị trường): Một trường phái ủng hộ vai trò trung ương kiểm soát nghiêm ngặt quy hoạch tài nguyên; trường phái đối lập cho rằng phân quyền tự chủ tối đa cho chính quyền cấp tỉnh và doanh nghiệp mới tạo ra động lực tăng trưởng đột phá.
- Tranh luận 2 (Bảo tồn nguyên trạng vs. Khai thác thương mại hóa): Sự mâu thuẫn giữa trường phái bảo tồn sinh thái - văn hóa nghiêm ngặt và trường phái tối đa hóa dung lượng khai thác thương mại, dịch vụ tại các KDLQG.
Luận án định vị vị trí học thuật bằng cách kết nối khoảng trống giữa lý thuyết chính sách công tổng quát và thực tiễn quản lý kinh tế du lịch không gian vùng liên tỉnh. So với hai mô hình quốc tế điển hình là Mô hình phân cấp quản lý KDL Thắng cảnh Quốc gia cấp 5A của Trung Quốc (vận hành cơ chế quản lý tích hợp, Quỹ đầu tư hạ tầng tập trung của chính phủ trung ương) và Mô hình Đặc khu Du lịch Tự trị Quốc tế Jeju của Hàn Quốc (áp dụng chính sách thuế ưu đãi đặc thù, tự do hóa visa và điều phối công - tư chặt chẽ), nghiên cứu này giải quyết bài toán thể chế phân mảnh đặc thù của Việt Nam, nơi các KDLQG trải dài liên tỉnh nhưng thiếu thể chế điều phối vùng hiệu lực.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án đóng góp quan trọng vào sự phát triển của chuyên ngành Quản lý kinh tế và Lý thuyết Quản trị Công trong ngành Du lịch thông qua việc mở rộng các lý thuyết nền tảng:
- Mở rộng Lý thuyết Chu trình Chính sách (Policy Cycle Theory của Thomas R. Dye và James Anderson): Luận án không nhìn nhận chính sách như một văn bản tĩnh mà mô hình hóa thành một chu trình động khép kín gồm 4 giai đoạn logic: (1) Xác định vấn đề, lựa chọn phương án; (2) Ban hành quyết định chính sách; (3) Tổ chức thực thi (chương trình hành động, thể chế hướng dẫn, thành lập quỹ); (4) Thanh tra, kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh chính sách.
- Làm sâu sắc Lý thuyết Thể chế (Institutional Theory của Douglass North, 1990): Làm rõ vai trò của các thiết chế quản lý chính thức (văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương và HĐND/UBND cấp tỉnh) và phi chính thức (nhận thức xã hội, tập quán cộng đồng) trong việc thúc đẩy hoặc kìm hãm hiệu quả khai thác tài nguyên KDLQG.
- Bổ sung Lý thuyết Năng lực Cạnh tranh Điểm đến (Destination Competitiveness của Crouch & Ritchie, 2003): Xác lập mối quan hệ phụ thuộc giữa năng lực điều phối chính sách cấp vùng với hiệu quả thu hút dòng vốn đầu tư và chất lượng nguồn nhân lực tại các KDLQG.
Trích dẫn định nghĩa nền tảng được luận án kế thừa và phát triển từ Nguyễn Thị Lệ Thúy & Bùi Thị Hồng Việt (2012):
"Chính sách là phương thức hành động được một chủ thể khẳng định và thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại. Chính sách xác định những chỉ dẫn chung cho quá trình quyết định. Chúng chỉ ra phạm vi hay giới hạn cho phép của các quyết định nhắc nhở các nhà quản lý những quyết định nào có thể và những quyết định nào không thể."
Và quan điểm của Phan Kim Chiến (2012):
"Chính sách là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và các công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế - xã hội nhằm giải quyết một số vấn đề, thực hiện những mục tiêu nhất định."
Từ đó, luận án chuẩn hóa khái niệm chuyên biệt: Chính sách phát triển KDLQG là tổng hợp các quan điểm, chủ trương, biện pháp, chương trình và phương thức hành động về du lịch của Nhà nước (Trung ương và địa phương), tác động lên các chủ thể kinh tế - xã hội tại các KDLQG nhằm đạt được các mục tiêu phát triển du lịch bền vững và hiệu quả.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp 3 trụ cột lý thuyết: Lý thuyết Kinh tế học Phúc lợi, Lý thuyết Quản trị Vùng và Lý thuyết Hành vi Doanh nghiệp, hình thành Ma trận phân tích 2 chiều giữa 8 nhóm chính sách phát triển KDLQG và 4 giai đoạn của Chu trình chính sách.
8 nhóm chính sách du lịch trụ cột được xác lập qua nghiên cứu bao gồm:
- Chính sách bảo tồn, tôn tạo tài nguyên và môi trường du lịch (John S. Fennell & Ross K. Dowling, 2003): Áp dụng kinh tế tuần hoàn, mô hình 3R (Reduce, Reuse, Recycle) và năng lượng tái tạo.
- Chính sách tài chính (Charles R. Brent Ritchie, 2009; James Mak, 2008; Vũ Đức Minh, 2009): Cơ chế ưu đãi thuế đất, tín dụng đầu tư dài hạn, phân bổ ngân sách quy hoạch và thành lập quỹ hỗ trợ phát triển du lịch.
- Chính sách kích cầu du lịch (Alan Jefferson & Leonard J. Lickorish, 1991; Stephen Page & Joanne Connell, 2006; William R. Kerr, 2003): Công cụ thuế GTGT (áp dụng 0% cho khách quốc tế, giảm 5% cho nội địa), miễn giảm thuế TNDN 30%, điều tiết chi tiêu công.
- Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực (NNL) (Đổng Ngọc Minh & Vương Lôi Đình, 2001; John R. Walker, 2011): Chuẩn hóa kỹ năng nghề du lịch theo chuẩn ASEAN, liên kết doanh nghiệp và cơ sở đào tạo in-house/public.
- Chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng (CSHT) và cơ sở vật chất kỹ thuật (CSVCKT) (Brent Ritchie, 2009): Cơ chế xã hội hóa, hợp tác PPP cho hạ tầng giao thông, viễn thông và cơ sở lưu trú cao cấp.
- Chính sách phát triển sản phẩm du lịch (SPDL): Khai thác giá trị đặc thù văn hóa - sinh thái biển đảo, tránh trùng lặp giữa các địa phương.
- Chính sách xúc tiến, quảng bá du lịch (James Mak, 2008; Vũ Đức Minh, 2009): E-marketing, xây dựng thương hiệu nhận diện vùng tại các hội chợ du lịch quốc tế.
- Chính sách liên kết, hợp tác phát triển du lịch (Bill Bramwell & Bernard Lane, 2000; Derek Hall & Greg Richards, 2002): Cơ chế điều phối liên tỉnh, chuỗi giá trị sản phẩm liên vùng.
Điều kiện biên (Boundary conditions): Khung phân tích được áp dụng tối ưu cho các KDLQG thuộc các vùng kinh tế trọng điểm đang trong giai đoạn chuyển đổi quy hoạch, có sự hiện diện của di sản kép/thiên nhiên thế giới và đòi hỏi sự phối hợp liên tỉnh.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án xây dựng trên nền tảng triết lý Hiện thực phê phán (Critical Realism) kết hợp với chủ nghĩa Thực dụng (Pragmatism), cho phép giải mã các cơ chế chính sách ẩn sâu dưới các hiện tượng kinh tế - xã hội. Thiết kế nghiên cứu kết hợp đa phương pháp tuần tự (Sequential Mixed-Methods Design), tích hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu định tính và định lượng:
- Cấp độ phân tích đa tầng (Multi-level design): Phân tích đồng thời ở cấp độ vĩ mô (chính sách Trung ương, Bộ ngành), cấp độ trung mô (chính quyền cấp tỉnh, Ban Quản lý KDLQG) và cấp độ vi mô (doanh nghiệp du lịch và cộng đồng địa phương).
- Phương pháp luận cốt lõi: Vận dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tiếp cận hệ thống và liên ngành kinh tế - xã hội học - địa lý du lịch.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu được thiết kế chặt chẽ theo chuẩn mực học thuật:
- Thu thập dữ liệu sơ cấp - Nghiên cứu định tính:
Tiến hành phỏng vấn sâu (In-depth interview) từ tháng 6/2019 đến tháng 8/2019 với $N = 15$ chuyên gia đầu ngành du lịch và kinh tế (thời lượng 30–40 phút/buổi). Mẫu bao gồm: giảng viên, nhà khoa học tại Trường Đại học Thương mại, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội; đại diện lãnh đạo Sở Du lịch Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Sở VHTTDL Hà Nam; đại diện lãnh đạo cấp cao các doanh nghiệp lữ hành lớn (Vietravel, Hanoitourist, Leadtravel, Vietsense). Kết quả ghi nhận sự đồng thuận tuyệt đối: 15/15 chuyên gia (100%) xác nhận tính chuẩn xác của 8 nhóm chính sách du lịch trụ cột.
- Thu thập dữ liệu sơ cấp - Nghiên cứu định lượng:
Thực hiện điều tra xã hội học từ tháng 10/2019 đến tháng 12/2019 thông qua bảng câu hỏi khảo sát cấu trúc chuẩn hóa dành cho các doanh nghiệp du lịch (DNDL) đang trực tiếp kinh doanh tại 9 KDLQG trong quy hoạch.
- Đảm bảo độ giá trị và tin cậy (Validity & Reliability):
Triangulation (Tam giác đạc) được áp dụng toàn diện trên 4 khía cạnh: Dữ liệu (Data), Phương pháp (Method), Nhà nghiên cứu (Investigator), và Lý thuyết (Theory). Thang đo Likert 5 điểm đạt độ tin cậy nội tại với hệ số Cronbach's Alpha vượt ngưỡng tiêu chuẩn $\alpha > 0.70$.
Data và phân tích
Phân tích định lượng được thực hiện trên mẫu khảo sát các DNDL tại các địa bàn KDLQG trọng điểm:
- Kỹ thuật phân tích: Sử dụng phần mềm phân tích thống kê để xử lý thống kê mô tả (Descriptive statistics), phân tích tần số, bảng chéo (Cross-tabulation) và đánh giá trọng số mức độ ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô và cấp tỉnh.
- Hệ thống biến số đo lường: Đánh giá từng khâu trong quy trình chính sách: Mức độ phù hợp với đường lối của Đảng và Nhà nước; Tính đồng bộ, nhất quán, minh bạch; Tính khoa học và khả thi; Mức độ đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp; Sự đồng thuận của dân cư bản địa; Hiệu quả thanh tra, kiểm tra và cơ chế điều chỉnh chính sách.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
-
Nghịch lý thể chế "Quy hoạch trên giấy" và sự chậm trễ trong công nhận KDLQG:
Dù Quyết định số 2163/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch 9 KDLQG cho vùng ĐBSH&DHĐB, nhưng đến tháng 7/2021, chỉ duy nhất 1/9 KDLQG (chiếm 11,1%) được công nhận chính thức là KDLQG Trà Cổ (Quyết định 1501/QĐ-BVHTTDL ngày 24/4/2019). 8 KDLQG còn lại rơi vào trạng thái thiếu khung pháp lý chuyên biệt, dẫn đến sự lúng túng trong thu hút đầu tư quy mô lớn và quản lý trật tự kinh doanh du lịch.
-
Đứt gãy trong chu trình thực thi chính sách tại doanh nghiệp du lịch:
Dữ liệu điều tra doanh nghiệp chỉ ra khoảng cách rất lớn giữa khâu ban hành chính sách và khâu thực thi. Doanh nghiệp đánh giá cao tính đúng đắn về chủ trương của Trung ương, nhưng chấm điểm rất thấp ở các khâu: Phổ biến chương trình hành động, Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể, Tập huấn nghiệp vụ và Cơ chế tiếp cận Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch.
-
Sự phân mảnh và xung đột lợi ích địa phương làm suy yếu tính liên kết vùng:
Điển hình tại KDLQG Hạ Long – Cát Bà, sự chồng chéo ranh giới hành chính giữa tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng tạo ra rào cản lớn về quản lý tuyến điểm tham quan, mức thu phí thắng cảnh, kiểm soát tàu du lịch lưu trú, làm triệt tiêu lợi thế cạnh tranh tổng thể của cụm di sản thiên nhiên thế giới.
-
Nút thắt kép về Hạ tầng kết nối và Nguồn nhân lực chất lượng cao:
Chính sách đầu tư CSHT chưa đồng bộ, hệ thống giao thông kết nối liên vùng đến các KDLQG (như Ba Vì - Suối Hai, Tam Chúc, Côn Sơn - Kiếp Bạc) còn nhiều điểm nghẽn. Đồng thời, chính sách phát triển NNL du lịch chưa theo kịp tốc độ phát triển dự án nghỉ dưỡng cao cấp; tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên sâu đạt chuẩn quốc tế tại các KDLQG còn ở mức thấp.
-
Hạn chế trong cơ chế tài chính và kích cầu du lịch:
Các công cụ tài chính như ưu đãi tiền thuê đất, gói tín dụng dài hạn và quỹ hỗ trợ du lịch hầu như chưa phát huy tác dụng đối với khối DNDL vừa và nhỏ. Chính sách xúc tiến quảng bá còn mang tính phân tán, thiếu kinh phí và chưa ứng dụng chuyển đổi số mạnh mẽ.
Implications đa chiều
- Đóng góp học thuật: Luận án cung cấp bộ khung lý thuyết hoàn chỉnh để phân tích chính sách công áp dụng riêng cho mô hình KDLQG tại các nền kinh tế mới nổi có cấu trúc hành chính phân cấp.
- Đổi mới phương pháp luận: Xác lập quy trình đánh giá kết hợp giữa phỏng vấn chuyên gia đa ngành và khảo sát trực tiếp đối tượng thụ hưởng chính sách (DNDL), tạo tiền lệ phương pháp cho các nghiên cứu chính sách du lịch tại 6 vùng kinh tế còn lại của Việt Nam.
- Ứng dụng thực tiễn và Hoạch định chính sách:
Đề xuất lộ trình 3 nhóm giải pháp toàn diện đến năm 2025, tầm nhìn 2030:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện quy trình chính sách: Tăng cường tham vấn doanh nghiệp ngay từ khâu lập đề án chính sách; chuẩn hóa quy trình ban hành văn bản hướng dẫn trong vòng 30 ngày sau khi ban hành nghị quyết; thiết lập hệ thống giám sát độc lập đối với hoạt động kiểm tra, thanh tra du lịch.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện 8 chính sách chuyên ngành: Thành lập Quỹ phát triển du lịch cấp vùng; áp dụng cơ chế miễn giảm thuế TNDN và thuế GTGT linh hoạt trong các đợt suy thoái; xây dựng Đề án đào tạo NNL du lịch chuẩn quốc tế liên kết giữa trường đại học và tập đoàn du lịch; đa dạng hóa sản phẩm du lịch đêm, du lịch sinh thái nông nghiệp gắn với di sản.
- Nhóm giải pháp đặc thù phát triển KDLQG: Kiến nghị thành lập Ban Quản lý KDLQG liên tỉnh trực thuộc Bộ VHTTDL đối với các khu vực di sản liên ranh giới (như Hạ Long - Cát Bà); đẩy nhanh tiến độ thẩm định hồ sơ công nhận chính thức 8 KDLQG còn lại.
Limitations và Future Research
- Hạn chế về bối cảnh thời gian và dữ liệu: Chuỗi số liệu định lượng thực trạng tập trung chính vào giai đoạn 2015–2019. Mặc dù luận án đã cập nhật bối cảnh năm 2020, nhưng các biến động phức tạp và dài hạn của đại dịch COVID-19 đối với chuỗi cung ứng du lịch toàn cầu cần tiếp tục được theo dõi định kỳ.
- Giới hạn mẫu khảo sát: Luận án tập trung khảo sát sâu khối DNDL và cơ quan quản lý nhà nước; tiếng nói của cộng đồng dân cư bản địa sinh sống trong vùng lõi KDLQG mới được phản ánh gián tiếp.
- Định hướng nghiên cứu tương lai:
- Mở rộng đánh giá tác động của Chuyển đổi số và Chính sách Du lịch Thông minh (Smart Tourism Governance) đối với KDLQG.
- Nghiên cứu mô hình Kinh tế tuần hoàn và Chính sách tăng trưởng xanh (Net-Zero Carbon Tourism) tại các KDLQG sinh thái biển đảo.
- Lượng hóa chi tiết năng lực chịu tải môi trường (Tourism Carrying Capacity) của từng KDLQG để tích hợp vào chỉ tiêu cấp phép đầu tư.
- Đánh giá tác động của mô hình quản trị hợp tác công - tư (PPP) trong quản lý vận hành KDLQG.
Tác động và ảnh hưởng
- Tác động học thuật: Luận án là công trình tiên phong tại Việt Nam nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về chính sách phát triển KDLQG cấp vùng, mở ra hướng nghiên cứu mới trong chuyên ngành Quản lý kinh tế và Kinh tế du lịch.
- Tác động chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch trong việc sửa đổi, bổ sung các tiêu chí công nhận KDLQG theo Luật Du lịch 2017; hỗ trợ HĐND và UBND 11 tỉnh thành vùng ĐBSH&DHĐB ban hành các nghị quyết chuyên đề về xúc tiến đầu tư và phát triển KDLQG.
- Tác động ngành và kinh tế - xã hội: Định hướng chiến lược giúp các tập đoàn du lịch, công ty lữ hành và các cơ sở lưu trú tối ưu hóa nguồn lực đầu tư, hình thành các chuỗi liên kết sản phẩm độc đáo, bảo vệ tài nguyên sinh thái và tạo sinh kế bền vững cho hàng triệu lao động tại địa phương.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giới học thuật: Nguồn tư liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu chính sách du lịch vùng và mô hình hóa chu trình chính sách công.
- Nhà hoạch định chính sách vĩ mô và địa phương: Bộ công cụ giải pháp thực tiễn để thiết kế cơ chế liên kết vùng, phân bổ ngân sách hạ tầng và hoàn thiện khung khổ pháp lý cho KDLQG.
- Doanh nghiệp du lịch và Nhà đầu tư: Cơ sở dữ liệu định hướng về quy hoạch, chính sách ưu đãi tài chính, đất đai và cơ hội hợp tác phát triển sản phẩm du lịch mới.
- Cơ sở giáo dục đại học và nghề nghiệp: Tài liệu giảng dạy chuyên sâu cho các chương trình đào tạo sau đại học ngành Quản lý kinh tế, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Trả lời: Luận án đã mở rộng Lý thuyết Chu trình Chính sách (Policy Cycle Theory của Dye & Anderson) bằng cách tích hợp trực tiếp 8 trụ cột chính sách du lịch vào cấu trúc quản trị KDLQG cấp vùng, giải quyết mâu thuẫn thể chế giữa ranh giới hành chính tỉnh và không gian kinh tế du lịch liên vùng.
2. Điểm mới về phương pháp nghiên cứu so với các công trình trước đây là gì?
Trả lời: So với các nghiên cứu trước (như VNCPTDL, 2011; Nguyễn Mạnh Cường, 2015), luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành, phỏng vấn sâu 15 chuyên gia đầu ngành để xác lập độ giá trị nội dung, kết hợp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi cấu trúc trên diện rộng tại các DNDL ở 9 KDLQG, thực hiện đối chuẩn với mô hình KDL cấp 5A của Trung Quốc và Đặc khu Jeju của Hàn Quốc.
3. Phát hiện thực chứng nào gây bất ngờ nhất trong luận án?
Trả lời: Đó là sự tương phản sâu sắc giữa quy hoạch và thực thi: Mặc dù vùng ĐBSH&DHĐB là trung tâm kinh tế du lịch lớn nhất miền Bắc với 9 KDLQG được phê duyệt quy hoạch tổng thể từ năm 2013, nhưng sau gần một thập kỷ, đến tháng 7/2021 mới chỉ có duy nhất KDLQG Trà Cổ được công nhận chính thức (đạt tỷ lệ 11,1%), phản ánh sự thiếu hụt nghiêm trọng của các chính sách hướng dẫn thực thi cấp bộ ngành và địa phương.
4. Quy trình nhân rộng và kiểm chứng nghiên cứu (Replication protocol) có được thiết lập không?
Trả lời: Luận án xây dựng quy trình nghiên cứu chuẩn hóa hoàn chỉnh từ khung phỏng vấn sâu chuyên gia, bảng hỏi khảo sát cấu trúc DNDL theo thang đo Likert, bộ chỉ tiêu đánh giá 8 nhóm chính sách đến phương pháp xử lý số liệu. Khung phân tích này có thể chuyển giao và nhân rộng trực tiếp cho 6 vùng du lịch còn lại tại Việt Nam.
5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tới (10-year research agenda) được vạch ra như thế nào?
Trả lời: Trọng tâm nghiên cứu trong thập kỷ tới bao gồm: (1) Mô hình thể chế Hội đồng điều phối KDLQG liên vùng; (2) Chính sách chuyển đổi số và phát triển du lịch thông minh; (3) Khung chính sách tài chính xanh và giảm phát thải carbon (Net-Zero) tại các KDL di sản thiên nhiên.
Kết luận
- Luận án đã hệ thống hóa và làm phong phú cơ sở lý luận về chính sách phát triển KDLQG tại vùng kinh tế du lịch, chuẩn hóa định nghĩa, vai trò và khung phân tích 8 nhóm chính sách chuyên ngành.
- Thiết lập quy trình nghiên cứu khoa học kết hợp định tính và định lượng chặt chẽ, tạo độ tin cậy và giá trị học thuật cao.
- Rút ra 8 bài học kinh nghiệm quốc tế và trong nước sâu sắc, phù hợp cho việc vận dụng vào điều kiện đặc thù của vùng ĐBSH&DHĐB.
- Đánh giá toàn diện, khách quan thực trạng 8 chính sách du lịch và 4 bước chu trình chính sách tại 9 KDLQG, chỉ rõ nguyên nhân cốt lõi của sự chậm trễ trong công nhận KDLQG chính thức.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gồm 3 nhóm trọng tâm: hoàn thiện quy trình chính sách, nâng cao chất lượng 8 chính sách bộ phận, và ban hành cơ chế đặc thù cho KDLQG đến năm 2025, tầm nhìn 2030.
- Cung cấp các kiến nghị khả thi, có địa chỉ rõ ràng gửi tới Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch cùng HĐND, UBND 11 tỉnh thành vùng ĐBSH&DHĐB nhằm thúc đẩy du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.