Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ XUẤT KHẨU VÀ KINH NGHIỆM VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ XUẤT KHẨU 1. Hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu 1. Khái niệm, đặc điểm hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu 1.1 Khái niệm hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu - Hàng thủ công: Là sản phẩm mà kỹ thuật sản xuất chủ yếu là làm bằng tay. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trong quy trình sản xuất có thể sử dụng máy, hoá chất và các giải pháp kỹ thuật của công nghiệp trong một số công đoạn, phần việc nhất định nhưng phần quyết định chất lượng và hình thức đặc trưng của sản phẩm vẫn làm bằng tay.
- Hàng thủ công mỹ nghệ: Là sản phẩm thủ công mang tính mỹ thuật được tạo hình và trang trí tinh xảo. Ở sản phẩm thủ công mỹ nghệ, chức năng văn hoá, thẩm mỹ trở nên quan trọng hơn chức năng sử dụng thông thường. Hàng TCMN thường được quan niệm là sản phẩm được sản xuất chủ yếu bằng phương pháp thủ công, tạo ra các sản phẩm có tính mỹ thuật cao, gắn liền với phong tục tập quán và mang đậm nét văn hoá của nơi tạo ra hàng hóa đó, thường là các sản phẩm truyền thống của một địa phương hay một quốc gia. [18], [21] Trước đây hàng TCMN là sản phẩm mà kỹ thuật sản xuất chủ yếu là làm bằng tay, được tạo hình và trang trí tinh xảo; nguyên liệu để sản xuất sản phẩm thường lấy trực tiếp từ thiên nhiên, công cụ sản xuất thường là công cụ cầm tay đơn giản.
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trong quy trình sản xuất có thể sử dụng máy móc, hoá chất và các giải pháp kỹ thuật của công nghiệp trong một số công đoạn, phần việc nhất định nhưng phần quyết định chất lượng và hình thức đặc trưng của sản phẩm TCMN vẫn làm bằng tay; đồng thời, ngoài nguyên liệu truyền thống từ thiên nhiên đã kết hợp vật liệu mới để sản xuất, tạo ra sản phẩm TCMN có chất lượng cao hơn, phong phú hơn.2 Đặc điểm hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu Từ khái niệm trên cho thấy, không giống như những hàng hoá khác, hàng TCMN xuất khẩu có những đặc điểm riêng có của mình, đó là: Về cách thức sản xuất, sự đa dạng của các chủ thể tham gia sản xuất, sự đa dạng và phong phú về nguyên vật liệu, mẫu mã và tính mỹ thuật của sản phẩm,. Chính vì vậy hàng TCMN xuất khẩu có những đặc thù riêng trong sản xuất và tiêu dùng. [18, [21], [22] - Về tính chất của sản phẩm Mỗi sản phẩm TCMN đều được tạo ra trong một hoàn cảnh xã hội nhất định, mang sắc thái của một khu vực địa lý và cộng đồng dân cư nhất định. Chất lượng sản phẩm TCMN luôn gắn liền với những yếu tố về văn hoá truyền thống, địa lý và điều kiện sống của khu vực dân cư, nơi tạo ra sản phẩm.
Hầu hết các sản phẩm TCMN đều phải thỏa mãn ở mức độ cao về mỹ thuật. Nét tinh xảo trong chế tác và những yếu tố văn hoá truyền thống thể hiện trên sản phẩm luôn mang lại sự hấp dẫn cho người tiêu dùng. Vì thế, khi nhìn nhận và xem xét hàng TCMN, người ta đặc biệt chú ý đến khả năng đem lại sự thích thú cho người tiêu dùng sản phẩm. Các yếu tố khác như độ bền, khả năng chứa đựng thường bị người ta xem nhẹ hơn.
Do chủ yếu được sản xuất bằng tay với nhiều loại nguyên vật liệu khác nhau, nên mức độ đồng đều về chất lượng của hàng TCMN thường không cao. Mỗi một khu vực làng nghề lại có những bí quyết riêng và cách xử lý nguyên liệu khác nhau. Đây chính là một trong những hạn chế của các sản phẩm TCMN, có những sản phẩm không phù hợp với những điều kiện môi trường ở các khu vực khác nhau. - Về người tiêu dùng Các sản phẩm TCMN vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị thẩm mỹ cao, vì thế nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là đồ vật trang trí.
Hàng TCMN được người tiêu dùng ở khắp các quốc gia ưa chuộng. Khi đời sống kinh tế, văn hoá ngày càng cao thì nhu cầu về hàng TCMN cũng tăng theo. Người tiêu dùng thường tìm đến với những sản phẩm có tính cá biệt cao, với những đặc trưng riêng có của một khu vực địa lý nào đó. Họ muốn có những sản phẩm mang lại cho họ một giá trị nghệ thuật.
Những điều này thường dễ tìm thấy ở sản phẩm TCMN và ít gặp ở những sản phẩm công nghiệp hàng loạt. 14 Thông qua tiêu dùng, người ta cảm nhận được giá trị nghệ thuật của sản phẩm TCMN từ sự tinh tế, sự sáng tạo và khéo léo trong tạo dáng; sự cá biệt của từng loại nguyện vật liệu làm ra chúng; sự tinh xảo và điêu luyện của người thợ; và hơn tất cả là sự kết tinh những nét văn hoá và truyền thống của cả dân tộc, của một khu vực địa lý hay một địa phương ở trong sản phẩm. Đây chính là một động lực rất mạnh kích thích tiêu dùng các sản phẩm TCMN. - Về nguyên vật liệu Hàng TCMN có thể được sản xuất bằng rất nhiều loại nguyên vật liệu khác nhau, như các nguyên vật liệu nguồn gốc thực vật từ vỏ cây (đay, gai, quế, xơ dừa); từ cây thân gỗ và thân sợi (tre, nứa, giang, luồng, mây, song); hoặc từ các loại lá (lá buông, lá dừa) và từ các loại rễ, quả cây (guột, sọ dừa, quả thông).
Bên cạnh đó, người ta cũng dùng các loại nguyên liệu như da động vật, sừng, ngà; các loại vật liệu vô cơ như đá, kim loại. So với nhiều nguyên liệu để sản xuất các loại hàng hóa khác thì đây thường là nguyên liệu rẻ tiền, sẵn có tại các địa phương; điều đó là một lợi thế rất quan trọng để hàng TCMN có tính cạnh tranh cao trên thị trường. Thực tế, có không ít sản phẩm TCMN được sản xuất từ những nguyên liệu được coi là phế liệu của các ngành khác, chẳng hạn như những bông hoa làm từ phôi bào, hoa khô, tranh từ cỏ dại, lá khô; các con giống, đồ trang trí từ vỏ sò, hến… - Về chủ thể sản xuất Trong lịch sử phát triển, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh hàng TCMN truyền thống phổ biến nhất là hình thức hộ gia đình. Tuy nhiên khi sản xuất kinh doanh ở các làng nghề phát triển thì một số hình thức khác được ra đời và phát triển.
Đó là các hình thức: tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp. Những hình thức này cùng tồn tại và có tác động hỗ trợ lẫn nhau trong nền kinh tế thị trường, tạo ra sự đa dạng hoá các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh tại các làng nghề TCMN. - Hộ gia đình : Là mô hình sản xuất truyền thống chiếm hơn 90% các mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề hiện nay. Hộ gia đình là mô hình sản xuất đặc biệt trong đó lao động là các thành viên trong gia đình, chỉ khi thời vụ hoặc khi chạy hàng thì có thể thuê thêm lao động.
Mọi thành viên trong gia 15 đình đều có thể tham gia, tuỳ theo độ tuổi, trình độ tay nghề để làm công việc phù hợp nhưng bao giờ cũng có ít nhất một người chịu trách nhiệm về kỹ thuật, quản lý, giao dịch,… Vì vậy sản xuất hộ gia đình là quy mô nhỏ. Hộ gia đình sản xuất phù hợp với cơ sở vật chất làng nghề nên đã phát huy được nhiều ưu điểm: Tận dụng, tranh thủ mọi thời gian lao động và mặt bằng sản xuất (nơi sản xuất thường là nhà ở) ; linh hoạt trong sản xuất kinh doanh; hiệu quả kinh tế được hạch toán cụ thể, kịp thời; có sự phù hợp giữa quy mô, năng lực sản xuất với trình độ quản lý. Mặc dù có một số ưu thế nhất định nhưng hình thức hộ gia đình cũng bộc lộ những nhược điểm cơ bản. Vì đặc trưng chủ yếu của sản xuất hộ gia đình là quy mô nhỏ, vốn ít, lao động ít đã hạn chế khả năng cải tiến và đổi mới kỹ thuật, công nghệ, hạn chế việc đào tạo và nâng cao trình độ quản lý, trình độ tay nghề, không có khả năng sản xuất lớn, không đủ tầm nhìn để định hướng cho sản xuất kinh doanh.
- Tổ sản xuất: Là hình thức hợp tác, liên kết tự nguyện một số gia đình với nhau để sản xuất kinh doanh hàng TCMN. Sự hợp tác đã tạo ra sự tương hỗ lẫn nhau trong việc thực hiện các khâu của quá trình sản xuất, vừa đảm bảo được tính độc lập của các hộ gia đình vừa tạo điều kiện tăng thêm sức mạnh trong tiếp cận với thị trường và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trong hình thức hợp tác này các mối liên kết rất lỏng lẻo, không cố định, không có tổ chức cụ thể. - Hợp tác xã: Là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể nhằm thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Đặc trưng cơ bản nhất của hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự nguyện của các chủ thể kinh tế, kết hợp được lợi ích của cá nhân và tập thể. Trong hiện tại cũng như lâu dài hợp tác xã vẫn là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh chủ yếu ở các làng nghề, do đã thể hiện rõ nhiều yếu tố tích cực như: có khả năng tập hợp được năng lực của làng nghề, với tư cách pháp nhân có thể đứng ra nhận những hợp đồng lớn tạo nhiều việc làm cho các hộ xã viên. Với các nguồn vốn góp có khả năng trang bị máy móc thiết bị mới, cải tiến công nghệ, thúc đẩy sự phát triển của làng nghề. 16 - Các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần Đây là hình thức mới xuất hiện và phát triển ở làng nghề TCMN sau khi Luật doanh nghiệp ra đời, từ những chủ thể kinh tế có vốn và năng động trong cơ chế thị trường.
Trong làng nghề, các doanh nghiệp tuy không chiếm tỷ trọng lớn về lao động nhưng lại đóng vai trò trung tâm liên kết các hộ gia đình là các vệ tinh thực hiện các hợp đồng đặt hàng, giải quyết đầu ra, đầu vào cho các hộ gia đình. Trong quá trình phát triển của làng nghề, số lượng các doanh nghiệp sẽ ngày càng tăng lên tại các làng nghề.