CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1. Sự cần thiết của chính sách phát triển du lịch: Nhằm thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển theo định hướng, Nhà nước đã sử dụng chính sách làm công cụ chủ yếu để giải quyết những vấn đề chung của cộng đồng trong các lĩnh vực sau đây: - Định hướng các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội: Chính sách phát triển du lịch phản ánh trực tiếp các thái độ và việc ứng xử của nhà nước trước một vấn đề liên quan đến du lịch, nên chính sách phát triển du lịch thể hiện rõ những xu thế tác động của nhà nước lên các đối tượng xã hội để các đối tượng này vận động đạt được những giá trị đổi mới tốt đẹp mà nhà nước đang theo đuổi. Phù hợp với những mục tiêu chính sách phát triển du lịch. Không những đạt được mục tiêu phát triển, mà còn được hưởng những ưu đãi của Nhà nước.
Các chủ thể kinh tế - xã hội hoạt động theo chiều hướng tác động của chính sách, thì như vậy, cùng với mục tiêu và biện pháp chính sách phát triển du lịch có tác động vai trò, định hướng của các chủ thể kinh tế - xã hội. - Sự tác động của các hoạt động kinh tế - xã hội theo định hướng: Nhà nước phải ban hành nhiều giải pháp để đạt được các mục tiêu chính sách, trong đó, nhà nước phải ban hành giải pháp mang tính hỗ trợ cho các doanh nghiệp khi tham gia vào phát triển du lịch như giảm thuế, miễn thuế, lãi suất trong lĩnh vực du lịch thấp, thủ tục hành chính đơn giản, gọn nhẹ.hỗ trợ này mang tính bắt buộc, mà chỉ mang tính khuyến khích để các doanh nghiệp thực hiện theo chủ trương và định hướng của Nhà nước. Chẳng hạn, chính sách về đầu tư và thu hút đầu tư trong và ngoài nước. 9 n - Trên cơ sở phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm và những bất cập của nền kinh tế thị trường: Nâng cao năng suất lao động, đổi mới công nghệ, chất lượng sản phẩm và giảm giá các dịch vụ cung cấp cho toàn xã hội.
Nhờ đó, mà từng cá nhân, xã hội và các tổ chức đều được hưởng lợi từ kinh tế thị trường. Tuy nhiên, ngoài những ưu điểm nêu trên, nền kinh tế thị trưởng của nước ta hiện nay không tránh khỏi những hạn chế như: độc quyền về sản xuất và phân phối, cung ứng hàng hóa không đầy đủ, thiếu công bằng, thông tin không chính xác về chất lượng hàng hóa,…gây ảnh hưởng không nhỏ đến xã hội. Vì vậy, việc sử dụng các công cụ chính sách để giải quyết những vấn đề tiêu cực do nền kinh tế gây ra, tức là khắc phục những khó khăn của nền kinh tế thị trường như: chờ nguồn trợ cấp, cung ứng dịch vụ của các doanh nghiệp Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công và chống độc quyền… - Tạo lập các cân đối trong phát triển: Để kinh tế - xã hội phát triển một cách ổn định, Nhà nước phải sử dụng các chính sách để bảo đảm các cân đối vĩ mô chính yếu như cân đối giữa hàng - tiền, cung - cầu, xuất - nhập khẩu, tiết kiệm - tiêu dùng,… Đồng thời, Nhà nước còn sử dụng chính sách để đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các vùng, miền của đất nước. - Quản lý, kiểm soát việc phân bổ các nguồn lực trong xã hội: Nhà nước luôn hướng đến mục tiêu phát triển về số lượng và chất lượng hiện tại và trong tương lai, nên nguồn tài nguyên tự nhiên và xã hội của một quốc gia luôn trở thành một vấn đề quan tâm chính yếu của các Nhà nước.
Để sử dụng tài nguyên theo hướng ổn định, bền vững và có hiệu quả, Nhà nước dùng chính sách để quản lý, kiểm soát quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên và phân bổ, tái phân bổ hợp lý các nguồn lực trong xã hội. Ví dụ: chính sách xây dựng nông thôn mới, giảm tiền thuê đất, chính sách thuế, kêu gọi và xúc tiến 10 n đầu tư trong nước và ngoài nước, chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh du lịch… - Tạo môi trường phù hợp cho các hoạt động kinh tế - xã hội: Thông qua các chính sách về phát triển du lịch, Nhà nước tạo ra những điều kiện cần thiết để tạo một môi trường thuận lợi cho các chủ thể xã hội hoạt động, thị trường vốn, thị trường khoa học và công nghệ, thị trường bất động sản, phát triển kết cấu hạ tầng, chính sách hội nhập… - Thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cấp, các ngành: Thông qua việc thực hiện chính sách nhằm thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan, đơn vị Nhà nước, các tổ chức đoàn thể, các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh và nhân dân tạo sự nhịp nhàng, đồng bộ trong việc thực hiện các mục tiêu, nội dung trong quản lý Nhà nước. Do vậy, Chính sách phát triển du lịch là định hướng hành động do Nhà nước lựa chọn thể hiện bằng một hệ thống các quyết định có liên quan với nhau (do Nhà nước ban hành), bao gồm các mục tiêu và giải pháp nhằm hướng tới phát triển du lịch, qua đó thúc đẩy sự phát triển du lịch theo định hướng là kinh tế mũi nhọn nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Đông Giang. Chính sách phát triển du lịch huyện Đông Giang trong thời gian qua đã tạo động lực cho sự phát triển của du lịch của huyện nhà.
Cụ thể lượng khách du lịch và doanh thu từ du lịch có chiều hướng tăng. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch ngày càng được nâng cao, các sản phẩm du lịch sạch về nông - lâm nghiệp, sản phẩm du lịch đan lát mây tre, dệt thổ cẩm ngày càng đa dạng về mẫu mã đạt chất lượng. Cơ sở lưu trú và các hộ kinh doanh dịch vụ ăn uống được cải thiện về số lượng và chất lượng. Nguồn nhân lực phục vụ cho du lịch đáp ứng được nhu cầu về thực tiễn cũng như chuyên môn về hoạt động lĩnh vực du lịch trên địa bàn huyện Đông Giang.
Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thực hiện chính sách phát triển du lịch 1. Chính sách và chính sách công Chính sách là một thành tố, công cụ của quản lý. Chính sách công là thành tố của quản lý nhà nước. Trong cuốn sách kinh tế - xã hội: “Chính sách kinh tế - xã hội là tổng thể các quan điểm, tư tưởng các giải pháp và công cụ mà nhà nước sử dụng tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm giải quyết các vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu tổng thể của xã hội.
Định nghĩa này tuy cố gắng nêu lên một cách đầy đủ các yếu tố cấu thành chính sách kinh tế - xã hội ở nước ta, song lại có sự trùng lặp như: quan điểm - tư tưởng, giải pháp - công cụ, đối tượng - khách thể quản lý. Tác giả Krafty Furloy cho rằng “Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng”.Jones định nghĩa chính sách công như sau “Chính sách công là một tập hợp các yếu tố gồm : Dự định, mục tiêu đề xuất, các quyết định hay các sự lựa chọn hiệu lực” Còn theo Doctor Eríc “ Chính sách công là một sản phẩm của một tiến trình tương tác giữa các cá nhân theo các nhóm làm việc nhỏ trong một khuôn khổ do các tổ chức đặt ra, các tổ chức này hoạt động trong một thể chế chính trị, luật pháp và chịu ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa – xã hội”. Theo các nhà khoa học của viện chính trị học, Học viện chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, “Chính sách công là đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi một hoặc một tập hợp các nhà hoạt động chính trị để giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn đề cần quan tâm” 12 n Do đó, “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi người dân” [17, tr. Các nhà khoa học của Viện Chính trị, Học viện Hành chính cho rằng, “Chính sách công là chương trình hành động của nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể,”; “Chương trình hành động hướng đích của chủ thể hoặc chi phối quyền lực công cộng”; Chính sách công là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước mhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định [17, tr.
Khi đề cập đến chính sách công, người ta thường đề cập đến chu trình của một chính sách công, bao gồm: Thiết lập chương trình nghị sự, xây dựng chính sách, ra quyết định chính sách công, thực thi chính sách, đánh giá và điều chỉnh chính sách [17, tr. Mỗi giai đoạn có vai trò và vị trí quan trọng riêng. Thực hiện chính sách Khái niệm thực hiện chính sách công là một khâu hợp thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực đối với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng [17, tr. Nhằm cụ thể hóa các nội dung chính sách để đạt được mục tiêu đã định hướng.
Đây là quá trình ban hành các văn bản, chương trình, dự án, kế hoạch thực hiện chính sách để đưa chính sách vào thực tiễn đời sống xã hội.Tuy nhiên để có một chính sách tốt, đúng đắn theo đúng quy định các nhà hoạch định đã rất công phu trong quá trình nghiên cứu để ban hành các chính sách phù hợp với thực tiễn. Du lịch và phát triển du lịch 13 n Khoản 1, Điều 3 Luật Du lịch năm 2017 quy định thuật ngữ du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” [24, tr. Luận văn sử dụng định nghĩa của Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 để triển khai nghiên cứu. Theo Luật Du lịch năm 2017 thì có 3 loại hình du lịch khác nhau đó là du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái và du lịch văn hóa.