CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA CHÍNH QUYỀN TỈNH 1. Chính sách khuyến khích phát triển du lịch 1. Du lịch và phát triển du lịch Mặc dù có nguồn gốc hình thành từ rất lâu và phát triển với tốc độ nhanh, song cho đến nay lại tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “du lịch”, điều đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân: do góc độ nghiên cứu khác nhau, do sự khác biệt về ngôn ngữ, do tính chất phức tạp của hoạt động du lịch, do trình độ phát triển của hoạt động du lịch có sự chênh lệch theo thời gian, theo không gian… Nhìn chung, cùng với quá trình phát triển của trình độ khoa học kỹ thuật, cùng với tiến trình phát triển của xã hội loài người, hoạt động du lịch ngày càng phát triển toàn diện và theo đó nhận thức về khái niệm “du lịch” của con người cũng ngày càng thống nhất và đầy đủ hơn. Trong lịch sử phát triển lý thuyết về khoa học du lịch, đã tồn tại khá nhiều quan điểm khác nhau về du lịch, chúng ta sẽ xem xét một số khái niệm tiêu biểu.
Hai nhà kinh tế Thụy sĩ Claude Kaspa và S.A Gallen (1979) đã viết: “Du lịch là tổng hợp những mối quan hệ và những hoạt động tạo ra do sự di chuyển và dừng lại của những người mà vị trí của nơi dừng không phải là nơi cư trú và cũng không phải là nơi hành nghề của chính họ”. Theo đó, du lịch không chỉ liên quan đến khách du lịch, mà còn đề cập đến các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cơ sở và cá nhân phục vụ cho các nhu cầu của khách du lịch tại nơi mà khách đi qua và ở lại. Các hoạt động này bao gồm: ăn, ở, vận chuyển, vui chơi, giải trí, hướng dẫn tham quan. Trong Luật du lịch được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua khoá XI, kỳ họp thứ 7 tháng 06/2005, tại Điều 4 thuật ngữ “du 9 lịch” và “hoạt động du lịch” được hiểu như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”; “Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch”.
Định nghĩa này xem xét du lịch như là một hoạt động, xem xét du lịch thông qua những hoạt động đặc trưng mà con người mong muốn trong các chuyến đi. Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm kinh tế, lại vừa có đặc điểm của ngành văn hoá - xã hội. Ngày nay, hoạt động du lịch đã được nhìn nhận như là ngành kinh tế quan trọng, có tốc độ phát triển nhanh.
Trên thực tế, hoạt động du lịch ở nhiều nước không những đem lại lợi ích kinh tế, mà còn cả lợi ích chính trị, văn hoá, xã hội… và ngành du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân, nguồn thu nhập từ du lịch đã chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm xã hội. Phát triển du lịch chính là quá trình tiến lên về trình độ của ngành du lịch trên tất cả các phương diện: phát triển về nhận thức, tư duy phát triển du lịch; hoàn thiện thể chế, chính sách; đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật; xây dựng hệ thống sản phẩm du lịch đặc sắc, đa dạng, đồng bộ, chất lượng cao, giá trị gia tăng cao. Mục tiêu của chính sách khuyến khích phát triển du lịch Chính sách khuyến khích phát triển du lịch có nhiều mục tiêu. Tùy theo cách tiếp cận, có thể chia các mục tiêu cụ thể.
Ở đây, xem xét du lịch trong mối liên hệ mất thiết, tác động qua lại với các vấn đề khác của cuộc sống, có thể nói mục tiêu chính sách khuyến khích phát triển du lịch như sau: Thứ nhất, khuyến khích phát triển du lịch để phát triển kinh tế. Bằng cách ban hành, thực hiện một số chính sách ưu đãi, khuyến khích phát triển du lịch để tạo 10 nguồn lực đầu tư cho phát triển du lịch, tạo ra các sản phẩm du lịch có chất lượng, thu hút du khách đến địa phương, sử dụng các dịch vụ đi kèm, góp phần tạo nguồn thu cho địa phương. Thứ hai, tạo công ăn việc làm, cải thiện thu nhập, nâng cao cuộc sống cho người dân địa phương. Khi các công trình phục vụ cho du lịch được triển khai xây dựng và đưa vào sử dụng phục vụ du khách sẽ tạo công ăn việc làm có thu nhập cho người dân địa phương, qua đó góp phàn nâng cao chất lượng cuộc sống cho họ.
Có công việc, thu nhập từ du lịch, người dân địa phương sẽ tiếp tục đầu tư cho du lịch, tạo nên một mối quan hệ phát triển bền vững. Thứ ba, tạo điều kiện để phát triển giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các địa phương, thúc đẩy liên hết vùng. Nguyên tắc của chính sách Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Việc ban hành chính sách du lịch cần đảm bảo một số nguyên tắc sau: Thứ nhất, khai thác sử dụng nguồn lực một cách hợp lý.
Nguồn lực là tổng thể vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn và thị trường… ở cả trong nước và ngoài nước có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển du lịch. Việc sử dụng, bảo tồn bền vững tài nguyên thiên nhiên văn hóa xã hội là hết sức cần thiết đảm bảo cho sự phát triển lâu dài, khai thác phục vụ hoạt động du lịch dựa trên sự tính toán nhu cầu hiện tại. Thứ hai, giảm thiểu sự tiêu thụ quá mức tài nguyên thiên nhiên. Việc tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên ở mức vừa đủ một mặt giúp cho việc phục hồi tài nguyên thiên nhiên, mặt khác giảm chất thải ra môi trường sẽ tránh nhiều phí tổn cho việc hồi phục môi trường, góp phần tăng chất lượng của du lịch.
Thứ ba, duy trì tính đa dạng thiên nhiên, xã hội và nhân văn. Cần phải trân trọng tính đa dạng của thiên nhiên, xã hội, môi trường của điểm đến, đảm bảo nhịp độ, quy mô và loại hình phát triển du lịch, để bảo vệ tính đa dạng của văn hóa địa phương. Thứ tư, phát triển du lịch phải đặt trong quy hoạch tổng thể của kinh tế xã hội. Sự tồn tại lâu dài của ngành Du lịch phải nằm trong khuôn khổ chiến lược của 11 quốc gia, vùng, địa phương về kinh tế - xã hội, phải phù hợp với địa phương, phù hợp với quy hoạch mà địa phương giao cho, sự phát triển đó mới bền vững và lâu dài.
Thứ năm, phát triển du lịch phải hỗ trợ kinh tế cho địa phương. Với tính đặc thù liên ngành, phát triển bền vững không phải chỉ riêng nó mà kéo theo nhiều lĩnh vực khác, trong lĩnh vực du lịch, việc hỗ trợ cho ngành nghề khác không chỉ các doanh nghiệp lớn mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ là những đơn vị được hỗ trợ nhiều, dẫn đến hỗ trợ kinh tế cho địa phương. Thứ sáu, thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương vào phát triển bền vững du lịch. Việc tham gia của cộng đồng địa phương là một nhân tố đảm bảo cho phát triển du lịch bền vững.
Khi cộng đồng địa phương được tham gia phát triển du lịch sẽ tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho du lịch, vì họ có trách nhiệm với chính tài nguyên và môi trường khu vực. Thứ bảy, lấy ý kiến của nhân dân và các đối tượng có liên quan. Việc trao đổi giữa ngành Du lịch, cộng đồng, cơ quan liên quan rất cần thiết nhằm giải tỏa những mâu thuẫn trong quá trình thực hiện các bước của phát triển du lịch. Tham khảo ý kiến của các bên liên quan và cộng đồng dân cư, các tổ chức trong và ngoài nước, phi chính phủ, chính phủ với các ý kiến cho dự án, cho công trình phát triển du lịch bền vững, lồng ghép các lợi ích của các bên nhằm mục đích hài hòa về lợi ích trong quá trình thực hiện.
Thứ tám, chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực. Với phát triển du lịch bền vững, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ vô cùng cần thiết. Một lực lượng lao động đào tạo kỹ năng thành thạo, không những mang lại lợi ích về kinh tế cho ngành mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch. Thứ chín, tiếp thị ngành du lịch một cách có trách nhiệm.
Cần tiếp thị, cung cấp những thông tin đầy đủ cho du khách qua những phương tiện thông tin báo, đài, internet… Cần tận dụng sức mạnh to lớn từ internet, các công cụ tìm kiếm, sự bùng nổ của mạng xã hội và các thiết bị thông minh. Tuy nhiên, thông tin quảng bá cần phải được sàng lọc và kiểm duyệt trước khi đưa ra công chúng nhằm giúp tương tác với du khách trên toàn cầu hiệu quả hơn. 12 Thứ mười, coi trọng công tác nghiên cứu khoa học ngành du lịch. Để du lịch trở thành một ngành kinh tế chuyên nghiệp, hiện đại và bền vững, hoạt động nghiên cứu khoa học đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đào tạo và thực hiện hoạt động phát triển du lịch.
Các thành tựu khoa học công nghệ về du lịch trong các lĩnh vực thời gian qua đã trở thành những nền tảng khoa học quan trọng với tính ứng dụng thực tiễn cao, góp phần vào sự phát triển của ngành công nghiệp du lịch. Chủ thể và đối tượng của chính sách khuyến khích phát triển du lịch - Chủ thể quyết định và ban hành chính sách Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 92/NQ-CP ngày 8/12/2014 của Chính phủ về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kì mới, Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 02/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, tập trung khắc phục yếu kém, thúc đẩy phát triển du lịch, Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 04/9/2013 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác quản lý môi trường du lịch, đảm bảo an ninh, an toàn cho du khách.