Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Tổng quan về hợp tác quốc tế và chính sách hợp tác quốc tế tại các cơ sở giáo dục đại học 1. Hợp tác quốc tế tại các cơ sở giáo dục đại học 1. Một số khái niệm - “Hợp tác quốc tế”: Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 2010, hợp tác là “cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm một mục đích chung” [40, tr.477], còn quốc tế là “các nước trên thế giới trong quan hệ với nhau” (danh từ) hay “thuộc về quan hệ giữa các nước trên thế giới” (tính từ) [40, tr.
Như vậy, có thể hiểu hợp tác quốc tế là hoạt động phối hợp của hai chủ thể trở lên thuộc các nước khác nhau trên thế giới nhằm giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó để đạt được mục đích chung, không chống đối nhau. Về mặt hành vi, đó là sự tương tác hòa bình giữa các chủ thể quan hệ quốc tế. Về mặt mục đích, hợp tác là cách thức phối hợp nhằm thực hiện các mục đích chung, lợi ích chung; là sự phối hợp đa dạng từ nhân lực, tài lực đến vật lực. Về mặt kết quả, hợp tác thường đem lại kết quả như nhau cho các bên tham gia hợp tác tức là cùng được hoặc cùng không thỏa mãn.
- “Cơ sở giáo dục đại học”: Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2012, cơ sở giáo dục đại học là “cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo các trình độ giáo dục đại học, hoạt động khoa học và công nghệ, phục vụ cộng đồng” [26, tr.1], “có tư cách pháp nhân, bao gồm đại học, trường đại học và cơ sở giáo dục đại học có tên gọi khác phù hợp với quy định của pháp luật” [26, tr. - “Hợp tác quốc tế tại các cơ sở giáo dục đại học”: có thể được hiểu là hoạt động phối hợp giữa chủ thể là một CSGDĐH thuộc quốc gia này với chủ thể là 8 Luan van CSGDĐH thuộc quốc gia khác nhằm giúp đỡ lẫn nhau, thực hiện những nội dung mà hai bên cùng thỏa thuận vì mục đích chung trong lĩnh vực GDĐH. Vai trò của hợp tác quốc tế với các cơ sở giáo dục đại học Thứ nhất, hoạt động HTQT có vai trò quan trọng trong việc định hướng sự phát triển của các trường ĐH theo hướng hiện đại, tiệm cận nền GDĐH tiên tiến trong khu vực và trên thế giới; định hướng và đổi mới giáo dục, nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng để phục vụ sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thông qua hoạt động HTQT, các trường ĐH Việt Nam có thể rút ra các kinh nghiệm quý giá trong việc đổi mới tư duy, phương thức quản lý giáo dục, lựa chọn phương hướng, cải tiến hệ thống và quy trình đào tạo, kết hợp nghiên cứu khoa học với giảng dạy, đồng thời biết tận dụng thời cơ và lợi thế để từng bước kéo gần khoảng cách giữa giáo dục Việt Nam và các nước phát triển.
Trong quá trình đó, các trường đại học có thể khai thác các cơ hội, tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, cập nhật các tiến bộ khoa học công nghệ thông qua các chương trình nghiên cứu chung, liên kết với các đối tác nước ngoài để từng bước chuẩn hóa các chương trình đào tạo và đổi mới phương pháp giảng dạy, nghiên cứu các tiêu chuẩn quốc tế nhằm tiến tới quốc tế hóa các chương trình, giáo trình giảng dạy. Thứ hai, HTQT là một trong số các tiêu chuẩn xếp hạng các trường ĐH của các bảng xếp hạng các trường ĐH hàng đầu thế giới hiện nay và cũng là một trong số các tiêu chuẩn xác định CSGDĐH chuẩn quốc gia theo quy định của Việt Nam. Nhu cầu quốc tế hóa khiến các trường ĐH ngày nay không thể phát triển mà không chú trọng tới HTQT và hoạt động theo những chuẩn mực quốc tế nhằm đạt được sự thừa nhận, đồng thời duy trì khả năng cạnh tranh của mình trong một môi trường toàn cầu. Hiện nay, các bảng xếp hạng các trường đại học hàng đầu trên thế giới như Quacquarelli Symonds (QS) và The Times Higher Education đều sử dụng các chỉ tiêu liên quan đến yếu tố quốc tế là những tiêu chí cơ bản khi xếp hạng, chẳng hạn như tỉ lệ sinh viên quốc tế, số bài báo khoa học quốc tế, số lượng giảng viên quốc tế, số lượng chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài.
Bảng 9 Luan van xếp hạng đại học thế giới QS là bảng xếp hạng thường niên về thứ hạng các trường đại học trên thế giới của tổ chức giáo dục Quacquarelli Symonds - Anh Quốc. Trước năm 2010, QS liên danh với tờ Phụ trương của Thời báo Giáo dục Đại học (Times Higher Eduction Surplement) của Anh Quốc để công bố bảng xếp hạng chung QS-THES. Tuy nhiên, từ 2010 đến nay hai tổ chức này công bố độc lập các bảng xếp hạng là bảng xếp hạng QS và bảng xếp hạng của Times Higher Education. Trong số 13 tiêu chí xếp hạng đại học của QS có 5 tiêu chí liên quan đến yếu tố quốc tế, cụ thể: Tỉ lệ giảng viên quốc tế trên 20%, tỉ lệ sinh viên quốc tế trên 10%, 25 chương trình nghiên cứu hợp tác với các đại học thuộc top 500 của xếp hạng QS trong vòng 3 năm gần đây, tỉ lệ giảng viên đi giảng dạy và nghiên cứu nước ngoài trên 10%, tỉ lệ sinh viên đi trao đổi nước ngoài trên 10%.
Bên cạnh đó, theo bảng xếp hạng The Times Higher Education, điểm số chung để xếp hạng toàn cầu “Overall score” được tính ra từ 5 thành phần rất quan trọng của hệ thống đào tạo - nghiên cứu: a) Giảng dạy; b) Tính quốc tế; c) Thu nhập và đổi mới; d) Năng lực nghiên cứu và e) Uy tín và ảnh hưởng nghiên cứu. Trong đó tính quốc tế chiếm trọng số 7,5% được xét trên các khía cạnh về tỉ lệ sinh viên, giảng viên quốc tế, số bài báo khoa học quốc tế. Do vậy, ngoài việc tập trung vào các hoạt động truyền thống là đào tạo và nghiên cứu khoa học, để có thể bắt kịp xu hướng phát triển của giáo dục thế giới, cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, các trường ĐH bắt buộc phải tiến hành hoạt động HTQT. GDĐH tại Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) đã ban hành Thông tư số 24/2015/TT-BGDĐT ngày 23/9/2015 quy định chuẩn quốc gia đối với CSGDĐH với 5 tiêu chí HTQT liên quan [7, tr.2- 4] đó là: (1) thư viện và trung tâm thông tin học liệu có bản quyền truy cập ít nhất một cơ sở dữ liệu khoa học quốc tế và có ít nhất một tạp chí khoa học quốc tế (bản in hay bản điện tử) đối với mỗi ngành đào tạo; (2) các chương trình đào tạo chất lượng cao, chương trình giảng dạy bằng tiếng nước ngoài, các chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ bắt buộc phải có chương trình tham khảo tương ứng của các nước phát triển đã được kiểm định bởi tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục được 10 Luan van Bộ GD&ĐT thừa nhận; (3) phải có ít nhất 10% chương trình đào tạo chất lượng cao, chương trình liên kết đào tạo có thỏa thuận công nhận tín chỉ, đồng cấp bằng với các cơ sở giáo dục đào tạo nước ngoài; (4) mỗi ngành đào tạo có ít nhất một nhóm giảng dạy - nghiên cứu; (5) có ít nhất 5 chương trình hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học với các trường đại học của các nước phát triển và 3 chương trình hợp tác đào tạo, trao đổi sinh viên với các trường đại học nước ngoài.
Ngoài ra, hoạt động HTQT cũng mang lại nhiều lợi ích thiết thực đối với mỗi cá nhân có liên quan, đối với sự phát triển của các trường ĐH nói riêng và nền GDĐH của các quốc gia nói chung. Đối với sinh viên và giảng viên, HTQT của các trường ĐH mang lại cơ hội to lớn trong việc tiếp cận nhanh chóng với nguồn tri thức quốc tế khổng lồ. Đối với các trường ĐH, hoạt động HTQT thúc đẩy các tổ chức này cải tiến cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng đào tạo để có thể thu hút được các đối tác cũng như tìm được vị thế trên thị trường quốc tế. Ngoài ra, khi hợp tác hệ thống GDĐH với nhau, các nước còn có cơ hội giao lưu, học tập kinh nghiệm quản lý và trao đổi kiến thức chuyên môn trong giảng dạy đại học.
Nhờ quá trình này, các bên đều có cơ hội nâng cao năng lực quản lý cũng như trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên. Một lợi ích thiết thực khác đó là HTQT trong GDĐH cũng góp phần không nhỏ trong việc tăng cường mối quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia với nhau. Mục tiêu và các hình thức hợp tác quốc tế của cơ sở giáo dục đại học * Mục tiêu: Hoạt động HTQT hiện nay tại các CSGDĐH có 2 mục tiêu chính theo quy định tại Điều 43 của Luật Giáo dục đại học (sửa đổi, bổ sung năm 2018) [26, tr.71] đó là: - Nâng cao chất lượng GDĐH theo hướng hiện đại, tiếp cận nền giáo dục đại học tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. - Tạo điều kiện để CSGDĐH phát triển bền vững, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
* Hình thức: 11 Luan van Về cơ bản, các hình thức HTQT trong GDĐH tại Việt Nam được xác định trên cơ sở nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm các nước phát triển trên thế giới cũng như rút ra từ thực tiễn quan hệ HTQT trong GDĐH; theo đó, Điều 44, Luật giáo dục đại học (sửa đổi, bổ sung năm 2018) [26, tr.71] đã quy định 9 hình thức HTQT của CSGDĐH gồm: (1) Liên kết đào tạo. (2) Thành lập văn phòng đại diện của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài tại Việt Nam. (3) Hợp tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học. (4) Tư vấn, tài trợ, đầu tư phát triển cơ sở vật chất, trang thiết bị.
(5) Bồi dưỡng, trao đổi giảng viên, nghiên cứu viên, cán bộ quản lý và người học.