Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về chính sách hỗ trợ sinh kế cho hộ nông dân. - Chương 2: Cơ sở lý luận về chính sách hỗ trợ sinh kế cho hộ nông dan. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. - Chương 4: Thực trạng thực thi chính sách hỗ trợ sinh kế cho hộ nông dân ở tỉnh Thái Nguyên.
- Chương 5: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ sinh kế cho hộ nông dân ở tỉnh Thái Nguyên. TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẺ CHÍNH SÁCH HO TRỢ SINH KE CHO HỘ NONG DAN 1. Những nghiên cứu về chính sách hỗ trợ bối cảnh sinh kế cho hộ nông dân Chính sách hỗ trợ bối cảnh sinh kế đã được nhiều tác giả nghiên cứu với những cách tiếp cận và phương pháp khác nhau. Bối cảnh dễ bị tổn thường dé cập đến tính thời vụ, xu hướng và các cú sốc ảnh hưởng đến sinh kế người dân (DFID, 1999b).
Bối cảnh về tình trạng dé bị tốn thương rất quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản sinh kế và cho phép họ đạt được kết qua sinh kế có lợi (DFID, 1999a). Bối cảnh dé bị tổn thương bao gồm các xu hướng khác nhau (dân số, tai nguyên, xu hướng kinh tế, chính trị và công nghệ), cú sốc (thiên tai, cú sốc kinh tế, dịch bệnh, chiến tranh, xung đột) và tính thời vụ (giá cả, biến đôi khí hậu, việc làm theo mùa). Ké từ đầu thế ky 21, mối quan hệ giữa các hoạt động của con người và biến đổi khí hậu đã dẫn đến các thảm họa thiên nhiên toàn cầu diễn ra thường xuyên và các sự kiện an toàn công cộng, không chỉ làm tăng áp lực hiện có đối với các dịch vụ hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên mà còn đe dọa nghiêm trọng đến an ninh sinh kế của những người sống phụ thuộc về các dịch vụ và tài nguyên đó (Kumar & các cộng sự, 2021; IPCC, 2014; UNEP, 2011). Hơn nữa, rủi ro toàn cầu dự kiến sẽ tiếp tục gia tăng và mang tính hệ thống và phức tạp; do đó, chống lại tác động của rủi ro đa chiều, nâng cao năng lực thích ứng và giảm tinh dễ bị tổn thương của hệ thống tự nhiên và xã hội đã trở thành những vấn đề thực tiễn quan trọng đối với các học giả và chính phủ (Gupta & các cộng sự, 2020; IPCC, 2014).
Bối cảnh sinh kế đề cập đến môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến hộ nông dân sản xuất nhỏ và nó có thé anh hưởng trực tiếp đến tài sản, chiến lược và kết quả sinh kế của họ. Ví dụ, quy mô trang trại có liên quan chặt chẽ đến hệ thống đất đai của các bang và giá gạo và vật tư nông nghiệp có thể ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng trồng lúa của nông dân va thu nhập liên quan (Viaggi & cộng sự, 2013; Chai, 2017). Sự sẵn có các tài sản sinh kế (vốn sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và khả năng tiếp cận thông tin) rất quan trọng để giải quyết van dé dé bị tốn thương sinh kế, đòi hỏi sự hợp tác lâu đài và liên ngành để đạt được mục tiêu nâng cao năng lực thích ứng (Zhang Qin & các cộng sự, 2022). Jia Chen & các cộng sự (2018) cho răng thiếu thông tin thị trường đã cản trở sinh kế của nông dân.
Vì vậy, ngoài việc ngoài việc nghiên cứu các kỹ thuật trồng trọt trong nông nghiệp, chính phủ cần tăng cường đào tạo nhận thức cho nông dân về kỹ năng tái tạo việc làm và thông tin thị trường, đồng thời khuyến khích họ thiết lập mạng lưới truyền thông rủi ro và hỗ trợ nguồn lực. Việc hỗ trợ hộ nông dân tiếp cận được các thông tin thị trường sẽ giúp cho hộ nông dân có bối cảnh sinh kế tốt hơn. Một số nghiên cứu đã chỉ ra những giải pháp để giúp hộ nông dân tiếp cận được thị trường tiêu thụ: liên kết nông hộ sản xuất nhỏ với thị trường thông qua hợp đồng về mặt thể chế, Chính Phủ ngoài thúc day hộ liên kết với các doanh nghiép/ Hợp tác xã dé tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao, thi cần hỗ trợ nông dân bán sản phẩm thông qua các hình thức khác (Nguyễn Thị Ngọc Lợi, 2017). Tran (2013) đã đánh gia tac động của bối cảnh đô thị hóa tới sinh kế hộ gia đình ven đô Hà Nội.
Tác giả cung cấp bằng chứng kinh tế lượng rằng các hộ nông dân ở gần các chợ địa phương và lân cận các khu công nghiệp có bối cảnh sinh kế thuận lợi hơn bởi họ có thé dé dàng chuyên đổi sinh kế từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp hoặc làm công ăn lương. Những sinh kế phi nông nghiệp này đem lại thu nhâp cao hơn sinh kế thuần nông. Từ đó, tác giả khuyến nghị răng các chính sách tạo bối cảnh sinh kế thuận lợi cho nông hộ cần hướng tới thành lâp các chợ địa phương và khu công nghiệp. Những chính sách này một mặt giúp tạo việc làm trực tiếp cho nông dân, và mặt khắc giảm bớt dòng di cư nông thôn-đô thị.
Nhằm đánh giá tác động của chính sách hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, Đinh Cao Khuê & các cộng sự (2020) đã sử dụng thông tin phỏng vấn của 63 doanh nghiệp nông nghiệp đánh giá về chính sách theo 5 mức độ với điểm tăng dan từ 1 đến 5 (không phù hợp, ít phù hợp, trung bình, phù hợp và rất phù hợp). Phương pháp đối chiếu so sánh cũng được sử dụng so sánh đối chiếu giữa chính sách và thực tế thực thi chính sách. Như vậy, các tác giả tập trung nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương của bối cảnh sinh kế, từ đó chỉ ra được những biện pháp Nhà nước cần hỗ trợ để xây dựng một bối cảnh sinh kế thuận lợi cho hộ nông dân: chính sách hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm cho hộ nông dân. Những nghiên cứu về chính sách hỗ trợ tài sản sinh kế cho hộ nông dân Trong những năm gần đây, đã có nhiều nghiên cứu sâu rộng về chính sách hỗ trợ tài sản sinh kế cho hộ nông dân bao gồm chính sách hỗ trợ vốn con nguoi, chính sách hỗ trợ vốn xã hội, chính sách hỗ trợ vốn tự nhiên, chính sách hỗ trợ vốn vật chất và chính sách hỗ trợ vốn tài chính.
Tổng quan các công trình nghiên cứu về chính sách hỗ trợ von con người Tài sản con người chủ yếu liên quan đến kiến thức cá nhân, kỹ năng, sức khỏe và tiềm năng lao động (Baffoe & Matsuda, 2018). Số lượng và chất lượng của lực lượng lao động là hai thước đo quan trọng (Fang & cộng sự, 2014). Giáo dục được công nhận rộng rãi là yếu tố cần thiết để nông dân theo đuổi thành công các chiến lược sinh kế khác nhau. Vì vậy, ngoài tỷ trọng lực lượng lao động hộ gia đình và trình độ học vấn cao nhất của các thành viên trong gia đình, dao tạo kỹ năng nông nghiệp cũng được coi là yếu tô đánh giá tài sản con người.
Trong quá trình chuyên đổi ở Trung Quốc, vốn con người là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các lựa chọn và chiến lược sinh kế. Ví dụ độ tuổi của chủ hộ và các thành viên trong gia đình, trình độ học vấn, mạng xã hội và thu nhập phi nông nghiệp (Zhao, 2002; Shi & các cộng sự, 2007; Glauben & các cộng sự, 2008) có thể ảnh hưởng đến chiến lược sinh kế ở nông thôn. Vốn con người cải thiện chất lượng lao động và năng suất người nông dân điều này sẽ làm tăng tỷ lệ hoàn vốn đầu tư lao động. Vì vậy, các biện pháp can thiệp chính sách để giáo dục tốt hơn cho nông dan về biến đổi khí hậu và các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu bang các đầu tư vào giáo dục sẽ giúp thúc day việc áp dụng các chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu của người nông dân (Kuang & cộng sự, 2019).
Thêm vào đó, việc hỗ trợ từ chính sách giáo dục-đào tạo và y tế sẽ giúp giảm nghèo bền vững không chỉ là làm tăng thu nhập mà còn là cải thiện các nguồn lực đầu vào cho người nghèo. Hoàng Triều Hoa (2014) đã chỉ ra những chính sách hỗ trợ người nghèo ở Việt Nam chưa phát huy hết hiệu quả và từ đó đề xuất một số khuyến nghị. Để đánh giá tác động của chính sách giáo dục và đào tạo cần phải hiểu và phân tích chuỗi kết quả của chính sách. Việc phân tích này sẽ giúp xây dựng một khung lô gic đáng tin cậy dé hiểu được các mối quan hệ từ đầu vào, hoạt động cho đến đầu ra của chính sách (World Bank, 2008).
Dé hỗ trợ vốn con người, Deng, Li, & Zhang, P. (2020) cho rằng Chính Phu nên quan tâm đến việc phát triển giáo dục, khuyến khích các hộ gia đình nông thôn tiếp thu thông tin mới, học các kỹ năng mới và phát triển ý tưởng mới. Chính sách giáo dục là chính sách quan trọng giúp hỗ trợ vốn con người từ đó giúp cải thiện kết quả sinh kế của hộ nông dân. Những tài liệu đóng vai trò quan trọng trong việc giúp tác giả xây dựng khung lý thuyết cho van đề nghiên cứu.
Vốn xã hội được phát triển thông qua các mạng lưới và kết nối; thành viên của các nhóm chính thức hơn và các mối quan hệ tin cậy, có đi có lại và trao đôi (DFID, 1999a). Tác động của vốn xã hội đã được nhiều tác giả đề cập, trước tiên phải đề cập đến, DFID (1999a) đã chỉ ra, theo nhiều cách, vốn xã hội mang lại một số hiệu ứng tích cực. Ví dụ, thông qua các mạng lưới và kết nối, mọi người nâng cao niềm tin, khả năng hợp tác và mở rộng cách tiếp cận của họ đối với các tổ chức rộng hơn, chăng hạn như các tổ chức chính trị hoặc dân sự. Vì vậy, bằng cách tăng cường hiệu suất của các mối quan hệ kinh tế, vốn xã hội có thé cải thiện thu nhập và tiết kiệm của mọi người.
Ngoài ra, là thành viên của một nhóm chính thức buộc mọi người phải tuân thủ các điều lệ, quy tắc và quy định chung, điều này có thé giảm thiểu các van đề về việc tiêu dùng không mất phí liên quan đến hàng hóa công cộng. Trong một số tình huống, vốn xã hội có thé giúp giảm thiểu các cú sốc và bù đắp sự thiếu hụt ở các nguồn vốn khác (DFID, 1999a). Do đó, mọi người sử dụng các mạng lưới dé giam thiểu rủi ro, truy cập các dịch vụ, tự bảo vệ mình khỏi sự cố và lấy thông lin để giảm chỉ phí giao dịch (Erankenberger, Drinkwater & Maxwell, 2000).