CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Tổng quan các vấn đề cơ bản về chính sách giảm nghèo bền vững 1. Khái niệm Chính sách 1. Chính sách “Chính sách” là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu, trên các phương tiện truyền thông và trong đời sống xã hội.
Tuy nhiên đây cũng là một thuật ngữ khó có thể định nghĩa một cách cụ thể, rõ ràng. Vì vậy có rất nhiều khái niệm khác nhau về chính sách, tùy theo quan điểm và giác độ tiếp cận của từng tác giả để đưa ra nhận định về chính sách. - Theo Wheelan (2011): “ Chính sách là một quá trình mà một xã hội tạo ra và quyết định có tính bắt buộc những hành vi nào được chấp nhận và hành vi nào không”. - Theo Considine (1994): “Chính sách là một công việc được thực hiện liên tục bởi những nhóm hoạch định, nhằm sử dụng các thể chế công để kết nối, phối hợp và biểu đạt giá trị họ theo đuổi” - Theo James Anderson (2003): “Chính sách là một quá trìn h hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề”.
- Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn mực cụ thể, thể hiện đường lối, nhiệm vụ; Chính sách được thể hiện trong một thời gian nhất định, trên lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Vậy qua các quan điểm và giác độ tiếp cận của từng tác giả trên, ta có thể nhìn nhận và đưa ra khái niệm về Chính sách như sau: “Chính sách là 8 những quy định, quyết định được nhà nước thể chế hóa nhằm điều chỉnh quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội của con người để giải quyết những vấn đề đặt ra, thực hiện những mục tiêu đã được xác định trước” [11, tr. Chính sách công Nhà nước là chủ thể đại diện cho quyền lực của nhân dân, ban hành chính sách để mưu cầu lợi ích cho cộng đồng và xã hội.
Cụm từ “chính sách” khi gắn với vai trò, chức năng của “khu vực công” được gọi là chính sách công. Ở các nước phát triển và các tổ chức kinh tế quốc tế, thuật ngữ “Chính sách công” được sử dụng phổ biến và có nhiều quan niệm khác nhau về chính sách công như sau: Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởn g một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân (B. Chính sách công là cái mà Chính phủ lựa chọn làm hay không làm (Thomas R. Chính sách công bao gồm các hoạt động thực thế do Chính phủ tiến hành (Peter Aucoin, 1971).
Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó (William Jenkin, 1978). Chính sách công là đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi một hoặc một tập hợp các nhà hoạt động chính trị để giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn đề cần quan tâm (James Anderson, 1984). Chính sách công bao gồm các quyết định chính trị để thực hiện các chương trình nhằm đạt được những mục tiêu xã hội (Charle L.Cochran and Eloise F. Malone, 1995) Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọ n liên quan 9 lẫn nhau, bao gồm cả quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra (William N.
Hay nói cách đơn giản nhất, chính sách công là tổng hợp các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi người dân (B. Thuật ngữ chính sách công luôn chỉ những hành động của Nhà nước và những ý định quyết định hành động này; hoặc chính sách công là kết quả của cuộc đấu trang trong chính quyền để ai giành được cái gì (Clarke E. Cochran, et al, 1999). Từ những nghiên cứu các quan niệm và cách tiếp cận trên, chính sách công có thể được nhìn nhận như sau: Thứ nhất, Chính sách công là chính sách của Nhà nước, của Chính phủ (do Nhà nước, do Chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi Nước.
Thứ hai, về mặt kinh tế, chính sách công phản ánh và thể hiện hoạt động cũng như quản lý đối với khu vực công, phản ánh việc đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cộng cho nền kinh tế. Thứ ba, là một công cụ quản lý của Nhà nước, được Nhà nước sử dụng để: Khuyến khích việc sản xuất, đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cho nền kinh tế, khuyến khích cả với khu vực công và cả với khu vực tư; Quản lý nguồn lực công một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn. Nói cách khác chính sách công là một trong những căn cứ đo lường năng lực hoạch định chính sách, xác định mục tiêu, căn cứ kiểm tra, đánh giá, xác định trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn lực công như ngân sách nhà nước, tài sản công, tài nguyên đất nước. Vậy, có thể đưa ra một khái niệm tổng quát nhất về Chính sách công 10 như sau: “Chính sách công là những định hướng mục tiêu và biện pháp hành động, được Nhà nước lựa chọn và ban hành như một công cụ quản lý của Nhà nước, nhằm giải quyết các vấn đề công cộng được lựa chọn, và được bảo đảm thực thi bởi các chủ thể có thẩm quyền” [13, tr.
Chính sách xã hội “Xã hội” là một tập thể hay một nhóm những người được phân biệt với các nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một thể chế và có cùng văn hóa. Chính sách xã hội là một hệ thống những quan điểm, chủ trương, phương hướng, biện pháp của nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội khác được thể chế hoá để giải quyết những vấn đề xã hội mà trước hết là những vấn đề xã hội gay cấn nhằm bảo đảm sự an toàn và phát triển xã hội. Chính sách xã hội là chính sách đối với con người, tìm cách tác động vào các hệ thống quan hệ xã hội (quan hệ các giai cấp, các tầng lớp xã hội, quan hệ các nhóm xã hội khác nhau) tác động vào hoàn cảnh sống của con người và của các nhóm xã hội, (bao gồm điều kiện lao động và điều kiện sinh hoạt) nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, bảo đảm và thiết lập được công bằng xã hội trong điều kiện xã hội nhất định. Từ các nhận định trên ta có thể thấy: “Chính sách xã hội là hành động chính sách để giải quyết vấn đề nhằm mục tiêu phúc lợi xã hội, bảo trợ xã hội,phát triển xã hội và phát triển con người” [12, tr.
Như vậy, Chính sách xã hội là một bộ phận cấu thành của chính sách công hướng tới lĩnh vực xã hội nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến cuộc sống con người, đến lợi ích của các nhóm người, các giai cấp trong xã hội nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội cho phù hợp với mục tiêu của giai cấp. Và Chính sách giảm nghèo cũng là một chính sách xã hội mà đối tượng quan tâm, điều chỉnh và được hưởng lợi là người nghèo, nhằm giải quyết hiện 11 tượng nghèo tại một quốc gia, khu vực, vùng miền nhất định. Quan niệm về nghèo và nguyên nhân dẫn đến nghèo 1. Các quan niệm về nghèo Mỗi quốc gia hay từng vùng, từng nhóm dân cư đều có cách nhìn nhận và quan niệm về nghèo riêng tuy nhiên nhìn chung không có sự khác biệt nhiều.
Tiêu chí chung nhất để xác định nghèo vẫn là mức thu nhập hay mức chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người về: ăn, mặc, ở, giáo dục, y tế, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội. Sự khác nhau chỉ là thỏa mãn ở mức cao hay thấp mà thôi. Điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế- xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia. Quan niệm nghèo của thế giới: Nghèo là một hiện tượng xã hội, nó xuất hiện ở tất cả các quốc gia trên thế giới, tùy theo quan niệm và cách tiếp cận của các học giả, các nhà nghiên cứu qua các thời kỳ lịch sử khác nhau mà có những khái niệm khác nhau về nghèo.
- Theo Ngân hàng thế giới (WB, năm 2000): “Nghèo là sự mất sự ấm no, nghèo là một khái niệm đa chiều vượt qua khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập, mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như: Dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn, không có quyền lực”. - Theo Ngân hàng phát triển Châu Á, năm 1999: “Nghèo là tình trạng thiếu những tài sản cơ bản và cơ hội mà con người có quyền được hưởng”. - Tại hội nghị về chống nghèo ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9-1993 tại Bangkok Thái Lan đã đưa ra định nghĩa về nghèo như sau: "Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán của địa phương".
12 - Theo tác giả cổ Trung Quốc cho rằng: “Những người vẫn đang phải lo toan cho bữa ăn đó là người nghèo, cuộc sống đối với người nghèo chỉ là sinh tồn mà thôi”. - Theo Robert McNamara khi là giám đốc của Ngân hàng thế giới đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối. Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: "Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta." - Nghèo tương đối: Trong xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân.