Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện thực chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số. Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi. Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.
Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số. Một số khái niệm 1. Nghèo và nghèo đa chiều Trên thế giới, khái niệm về nghèo được thể hiện qua rất nhiều quan niệm khác nhau, chúng ta có thể hiểu: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển Kinh tế - Xã hội và phong tục tập quán của địa phương” (Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan tháng 9/1993). Khái niệm nghèo đa chiều đã xuất phát từ quan niệm nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người.
Vì vậy, nghèo đa chiều có thể được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống. Chuẩn nghèo và đo lường nghèo Chuẩn nghèo (hay ngưỡng nghèo, đường nghèo) là mức thu nhập tối thiểu cần thiết để đảm bảo những nhu cầu vật chất cơ bản cho con người có thể tiếp tục tồn tại. Chuẩn nghèo có sự biến động theo thời gian và không gian. Chuẩn nghèo là công cụ có ý nghĩa quan trọng trong việc phân định đối tượng nghèo và không nghèo.
Những người được coi là nghèo khi mức sống 9 của họ đo qua thu nhập (hoặc chi tiêu) thấp hơn chuẩn nghèo. Tại một thời điểm nhất định có thể tồn tại nhiều đường nghèo khác nhau, ví dụ: đường nghèo thu nhập, đường nghèo lương thực thực phẩm, đường nghèo chung, đường nghèo về y tế, đường nghèo về giáo dục, đường nghèo quốc tế, đường nghèo quốc gia, đường nghèo địa phương… Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1614/QĐ-TTg ngày 15/9/2015 Phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016- 2020”,chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020 theo hướng: sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; xây dựng mức sống tối thiểu để từng bước bảo đảm an sinh xã hội cho mọi người dân, trước mắt áp dụng chuẩn nghèo chính sách để phân loại đối tượng hộ nghèo, phù hợp với khả năng cân đối ngân sách. Giảm nghèo bền vững và chính sách giảm nghèo bền vững Trong tiến trình phát triển, tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo có mối quan hệ biện chứng: tăng trưởng kinh tế tạo ra điều kiện cơ sở vật chất để giảm nghèo, ngược lại giảm nghèo là một nhân tố đảm bảo cho sự tăng trưởng mang tính bền vững. Tuy nhiên, trong mối quan hệ này giảm nghèo vẫn là yếu tố chịu sự chi phối, phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế.
Giảm nghèo có tính tương đối, bởi nghèo có thể tái sinh khi giải pháp giảm nghèo chưa bền vững hoặc chuẩn nghèo đã có sự thay đổi, hoặc có những biến động khác tác động đến đời sống xã hội như khủng hoảng lạm phát, thiên tai…. Do đó việc đánh giá mức độ giảm nghèo cần được xem xét trong một không gian, thời gian nhất định. - Khái niệm “chính sách giảm nghèo bền vững” : Theo PGS. Trần Đình Thiên, giảm nghèo bền vững “ không thể giúp người nghèo bằng cách tặng nhà, tặng phương tiện sống…Đây là cách giảm nghèo, xóa nghèo nhanh 10 nhưng chỉ tức thời, không bền vững.
Muốn giảm nghèo, xóa nghèo bền vững thì Nhà nước, cơ quan chức năng phải cấp cho người nghèo một phương thức phát triển mới mà tự họ không thể tiếp cận và duy trì. Bên cạnh đó là sự hỗ trợ, ngăn ngừa, loại trừ các yếu tố gây rủi ro chứ không chỉ là sự nổ lực khắc phục hậu quả sau rủi ro. Đặc biệt, sự hỗ trợ giảm nghèo này phải được xác lập trên nguyên tắc ưu tiên cho các vùng có khả năng, điều kiện thoát nghèo nhanh và có thể lan tỏa sang các vùng lân cận” [13]. Tác giả luận văn cũng đồng ý với quan niệm trên về giảm nghèo bền vững và cho rằng: Giảm nghèo bền vững là một quá trình chuyển một bộ phận người nghèo từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có đầy đủ điều kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi hộ gia đình nghèo.
Nói cách khác giảm nghèo bền vững là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có nhiều lựa chọn hơn, giúp họ từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Chính sách giảm nghèo bền vững là tập hợp các quyết định của Chính phủ nhằm đưa ra các giải pháp, công cụ chính sách để giải quyết các vấn đề về cải thiện đời sống vật chất và tinh thần đối với người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư, thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững của đất nước [14]. Chính sách giảm nghèo bền vững nhìn từ quan niệm chính sách công: Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện chính sách nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định của Đảng chính trị cầm quyền [27, tr. 11 Tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững là một khâu quan trọng hợp thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách đến đội tượng chính sách, được hiện thực bởi các cộng cụ chính sách bao gồm các hoạt động của các chủ thể do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định nhằm đưa chính sách giảm nghèo bền vững vào cuộc sống thông qua các nội dung công việc cụ thể để đảm bảo nguyên tắc, tuân thủ theo một trình tự, thủ tục nhất định nhằm đạt được mục tiêu của chủ thể chính sách.
Đồng bào dân tộc thiểu số Cũng như khái niệm "người thiểu số", khái niệm "dân tộc thiểu số" cũng được sử dụng chính thức trong các văn kiện pháp lý quốc tế và pháp luật các quốc gia. Tùy theo từng bộ môn, lĩnh vực nghiên cứu hay quan điểm của mỗi quốc gia, DTTS (minorité ethnique, ethnic) là thuật ngữ có nhiều định nghĩa khác nhau trên thế giới. Đáng chú ý, năm 1992, Đại hội đồng LHQ đã thông qua thuật ngữ “dân tộc thiểu số” trên cơ sở dựa vào quan điểm của GS. Cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là công dân của quốc gia này; (b).
Duy trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinh sống; (c).Thể hiện bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của họ; (d). Đủ tư cách đại diện cho nhóm dân tộc của họ, mặc dù số lượng ít hơn trong quốc gia này hay tại một khu vực của quốc gia này; (e). Có mối quan tâm đến vấn đề bảo tồn bản sắc chung của họ, bao gồm cả yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo và ngôn ngữ của họ". Theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ thì được hiểu như sau: “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt 12 Nam.
Hiện nay, Việt Nam có 54 dân tộc anh em và một nhóm người nước ngoài cùng chung sống; trong đó người Kinh có số lượng đông đảo nhất, chiếm khoảng 85,24% tổng dân số cả nước. Đặc điểm của thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số Để giải quyết vấn đề đói nghèo, một trong những vấn đề cơ bản là xây dựng và xác định nó trong tổng thể các chính sách xã hội. Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: chính sách xóa đói giảm nghèo bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người; điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, chính trị, đạo đức…coi nhẹ chính sách xoá đói giảm nghèo tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chính sách xoá đói giảm nghèo luôn gắn với chế độ chính trị- xã hội.
Ở chủ thể hoạch định chính sách này là Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với sự tham gia của các tổ chức chính trị- xã hội, các ban ngành đoàn thể xã hội như : Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Lao động và thương binh xã hội, Hội nông dân Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam… Như vậy, chính sách xoá đói giảm nghèo là sự thể chế hoá, cụ thể hoá đường lối, chủ trương giải quyết các vấn đề đói nghèo dựa trên những tư tưởng, quan điểm của chủ thể lãnh đạo phù hợp với bản chất chế độ chính trị- xã hội, phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và của nhóm xã hội nói riêng nhằm tác động trực tiếp vào con người hướng tới mục tiêu cao nhất là thoả mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân. Với nội dung đó, chính sách xoá đói giảm nghèo phải được kế hoạch hoá bằng các chương trình dự án hình thành các quỹ, các cơ sở và các tổ chức 13 xã hội. Xét một cách tổng thể, chính sách xoá đói giảm nghèo có những đặc điểm cơ bản sau : Thứ nhất: Tái tạo tiềm năng nhân lực thông qua các chính sách ưu tiên về dân số, giáo dục, bảo vệ sức khoẻ con người…đối với những đối tượng thuộc chính sách xoá đói giảm nghèo.