Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức khi đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị. Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức khi đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức khi đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC KHI ĐỔI MỚI, SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ 1.
Khái niệm cán bộ, công chức, viên chức 1. Khái niệm cán bộ Trước đây, thuật ngữ “cán bộ” được sử dụng ở nước ta bao hàm một phạm vi rất rộng để chỉ những người làm việc trong Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Cán bộ cũng là từ thường được người dân sử dụng để nói về những người có quyền hành trong các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước, Mặt trận, các đoàn thể; hay đang thụ lý giải quyết một công việc cho tổ chức, công dân. Cụm từ thông dụng khi đó là “cán bộ, công nhân viên chức”, bao gồm tất cả những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức được hưởng lương từ Nhà nước.
Sự đánh đồng như vậy dẫn tới việc không phân biệt rõ giữa những người thực thi chức năng lãnh đạo, quản lý và những người tham mưu chuyên môn trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị. Pháp lệnh cán bộ, công chức được Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa X) đã thông qua ngày 26/02/1998 là cơ sở pháp lý quan trọng để nước ta xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp trong thời kỳ đổi mới. Sau đó, tuy Pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung, quy định cụ thể hơn đối tượng là cán bộ, công chức, nhưng cũng chưa phân định rõ giữa cán bộ và công chức. Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010, tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 4 quy định về cán bộ: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc 9 tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [42].
“Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [42]. Khái niệm công chức Cùng với khái niệm cán bộ, tại Khoản 2, Điều 4, Luật Cán bộ, công chức quy định về công chức: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [42]. Khái niệm viên chức Pháp lệnh số 11/2003/PL-UBTVQH11, ngày 29/4/2003 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa XI) về sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức có đề cập đến ngạch viên chức. Theo đó, Nghị định số 116/2003/NĐ-CP, ngày 10/10/2003 của Chính phủ đã nêu khái niệm về viên 10 chức.
Tại Điều 1 và Điều 2 Nghị định này. Luật Viên chức năm 2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012, tại Điều 2 và khoản 1, Điều 3 đã quy định rõ về viên chức: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [43]. “Viên chức quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý” [43]. Một số khái niệm về chính sách công và chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức 1.
Khái niệm chính sách công Khái niệm chính sách công được các nhà khoa học phân tích theo nhiều quan điểm. Cho đến nay, một số nhà khoa học đã đưa ra các quan điểm và định nghĩa về chính sách công; cơ bản nói đến 3 vấn đề: chủ thể ban hành chính sách; mục đích của chính sách; vấn đề chính sách hướng tới giải quyết. Chính sách công ở Việt Nam có thể khái niệm: "Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan để "lựa chọn" mục tiêu và những giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề chính sách theo mục tiêu tổng thể đã xác định của đảng chính trị cầm quyền" [35, tr. Tại Việt Nam, chính sách công được thể hiện qua nhiều loại văn bản khác nhau, như: luật, các văn bản dưới luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, các quyết định của các cơ quan trung ương, địa phương.
Có thể hiểu chính sách công là tất cả những công việc mà chính quyền thi hành đến dân; là ý chí của nhà nước trong hoạt động quản lý nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu theo định hướng chính trị; tác động mang tính cộng 11 đồng vì lợi ích chung; mang tính hệ thống và đảm bảo thực thi bởi các cơ quan quyền lực từ trung ương đến địa phương; thể hiện ý chí chính trị của chủ thể ban hành và thường gắn với các Đảng phái chính trị lãnh đạo cầm quyền. Chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức Chính sách cán bộ được xây dựng và thực hiện trên cơ sở các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta đối với cán bộ, công chức, viên chức; là công cụ quan trọng để xây dựng, sử dụng, quản lý đội ngũ cán bộ ở các cấp, các ngành phù hợp với yêu cầu của mỗi giai đoạn cách mạng ở nước ta. Hệ thống chính sách này nhằm phục vụ cho công tác cán bộ, đồng thời cũng nhằm đảm bảo quyền, lợi ích về vật chất và tinh thần, nghĩa vụ, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức. Do đó, chính sách cán bộ luôn gắn liền với các khâu trong công tác cán bộ, khó có thể tách rời mối liên hệ này.
Chính sách cán bộ cũng như các chính sách khác, do con người tạo ra, nhưng đồng thời chính sách cũng tác động trở lại đến hoạt động của con người. Do vậy chính sách cán bộ phải có sự đồng bộ và tạo điều kiện cho mọi cán bộ có thể phát huy hết năng lực sáng tạo của mình. Chính sách cán bộ là một trong những công cụ quan trọng để Đảng, Nhà nước ta xây dựng chiến lược cán bộ, tạo nguồn lực cho việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương. Vì vậy, có thể khẳng định rằng muốn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thì cần phải có hệ thống chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức phù hợp.
Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là yếu tố rất quan trọng trong tạo động lực cho cán bộ, công chức, viên chức phấn đấu học tập vươn lên; chính sách bố trí, sử dụng và quản lý cán bộ cũng đóng vai trò phát huy trách nhiệm, trình độ, năng lực, hiệu quả hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, đòi hỏi cán bộ, công chức, viên chức phải có kiến thức tương ứng mới đủ 12 trình độ đáp ứng yêu cầu công việc; đồng thời phải có chế độ quản lý chặt chẽ cán bộ, công chức, viên chức. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều cán bộ, công chức, viên chức không muốn học tập nâng cao trình độ, không chịu phấn đấu vươn lên, làm việc cầm chừng… Điều đó do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ chính sách cán bộ chưa thỏa đáng, chưa hợp lý. Hiện nay, đời sống và thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức còn thấp, do đó, để họ yên tâm công tác, cần có chính sách đãi ngộ vật chất, động viên tinh thần một cách hợp lý và thỏa đáng.
Điều này cũng góp phần làm trong sạch đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, là giải pháp tích cực trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Tóm lại, xây dựng và thực hiện tốt chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức chính là việc làm nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đủ năng lực công tác, công tâm, tận tụy với nhân dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Tổ chức thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức Tổ chức thực hiện chính sách công là toàn bộ quá trình hiện thực hóa mục tiêu chính sách công, đảm bảo cho mục tiêu chính sách công đạt kết quả trong thực tiễn. Việc tổ chức thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức có vị trí đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách cán bộ, là bước hiện thực hoá đưa chính sách cán bộ đi vào đời sống xã hội.