Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng đội ngũ công chức cấp huyện Chương 2: Thực trạng công tác xây dựng đội ngũ công chức cấp huyện tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xây dựng đội ngũ công chức cấp huyện tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định 6 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm công chức Ở Việt Nam, khái niệm công chức đƣợc hình thành từ khá sớm và ngày càng đƣợc hoàn thiện, gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nƣớc.
Theo Từ điển tiếng Việt: “Công chức là ngƣời đƣợc tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thƣờng xuyên trong cơ quan nhà nƣớc, hƣởng lƣơng do ngân sách nhà nƣớc cấp” [35, tr. Căn cứ khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức 2008 (đƣợc sửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức sửa đổi 2019) quy định nhƣ sau: Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tƣơng ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Theo đó, công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hƣởng lƣơng từ ngân sách Nhà nƣớc và thuộc các cơ quan, đơn vị đƣợc nêu cụ thể tại Nghị định 06/2010/NĐ-CP gồm: - Trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam; Trong Văn phòng Chủ tịch nƣớc, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nƣớc; - Trong Bộ, cơ quan ngang Bộ và các tổ chức khác do Chính phủ, Thủ 7 tƣớng Chính phủ thành lập; Trong cơ quan hành chính ở cấp tỉnh, cấp huyện; - Trong hệ thống Tòa án nhân dân, hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân; Trong cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ƣơng, tỉnh, huyện; - Trong cơ quan, đơn vị của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Khái niệm công chức cấp huyện Theo mô hình quản lý nhà nƣớc, nƣớc ta hiện nay có 4 cấp quản lý hành chính: trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.
Trong đó, cấp huyện có vai trò quan trọng đối với việc chỉ đạo, hƣớng dẫn trực tiếp cho cấp xãthực hiện đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànƣớc; chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội ở địa phƣơng. Ở cấp huyện, công chức thực thi công vụ nhà nƣớc đƣợc gọi là công chức cấp huyện. Hiện nay, chƣa có khái niệm cụ thể về công chức cấp huyện. Theo Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định những ngƣời là công chức cấp huyện gồm những đối tƣợng sau đây: Thứ nhất, công chức trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam ở quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện) là ngƣời giữ chức vụ, chức danh ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu và ngƣời làm việc trong văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy thuộc tỉnh (khoản 3, Điều 3).
Thứ hai, công chức trong các cơ quan hành chính ở cấp huyện: Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và ngƣời làm việc trong Văn phòng Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND); Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và ngƣời làm việc trong văn phòng Ủy ban nhân dân quận, huyện nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân; Ngƣời giữ chức vụ cấp trƣởng, cấp phó và 8 ngƣời làm việc trong cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân (khoản 2, Điều 6). Thứ ba, công chức trong hệ thống Tòa án nhân dân: Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện; Thẩm phán tòa án nhân dân cấp huyện;thƣ ký tòa án; ngƣời làm việc trong tòa án nhân dân cấp huyện (khoản 3, Điều 7). Thứ tƣ, công chức trong hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân: Viện trƣởng, Phó Viện trƣởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện; kiểm sát viên, điều tra viên và ngƣời làm việc trong Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện (khoản 3, Điều 8). Thứ năm, công chức trong cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội ở cấp huyện: Ngƣời làm việc trong cơ quan của các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức tƣơng đƣơng (khoản 3, Điều 9).
Thứ sáu, Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập: ngƣời đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc ngân sách nhà nƣớc cấp kinh phí hoạt động thuộc huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy thuộc tỉnh ủy; cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện (khoản 4, Điều 11). Từ những quy định trên, có thể hiểu công chức cấp huyện là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, làm việc trong cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội, chính quyền, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân cấp huyện theo luật định, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan trong lĩnh vực thuộc thẩm quyền nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phƣơng. 9 Công chức cấp huyện được hiểu là những người do bầu cử, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở cấp huyện. Trong phạm vi đề án này, chúng tôi chỉ đi sâu vào phạm vi công chức cấp huyện theo Điều 6, Nghị định 06/2010/NĐ-CP, ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định những ngƣời là công chức thì công chức trong cơ quan hành chính ở cấp huyện, gồm: a) Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng và ngƣời làm việc trong Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng và ngƣời làm việc trong văn phòng ủy ban nhân dân quận, huyện nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân; c) Ngƣời giữ chức vụ cấp trƣởng, cấp phó và ngƣời làm việc trong cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân: Phòng Nội vụ; Phòng Tƣ pháp; Phòng Tài chính - Kế toán; Phòng Tài nguyên và Môi trƣờng; Phòng Văn hóa và Thông tin; Phòng Giáo dục và Đào tạo; Phòng Y tế; Thanh tra huyện; Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
Khái niệm xây dựng đội ngũ công chức cấp huyện Hiểu theo nghĩa chung nhất, xây dựng là quá trình tác động của chủ thể có nhiệm vụ xây dựng đến một đối tƣợng nhất định theo ý tƣởng, mục tiêu mong muốn từ trƣớc. Theo Từ điển tiếng Việt, cụm từ “xây dựng” có nghĩa là làm nên, gây dựng nên; làm cho hình thành một tổ chức hay một chỉnh thể về xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa theo một phƣơng hƣớng nhất định; tạo ra cái có giá trị tinh thần, có ý nghĩa trừu trƣợng; thái độ, ý kiến có thiện ý, nhằm làm cho tốt hơn [35, tr. Từ “đội ngũ” đƣợc xem là chỉ một nhóm ngƣời, đƣợc tổ chức và tập hợp thành một lực lƣợng để thực hiện một hay nhiều chức năng hoặc nghề nghiệp nhất định. Theo Từ điển tiếng Việt: “Đội ngũ là khối đông ngƣời đƣợc 10 tập hợp và tổ chức thành lực lƣợng; tập hợp gồm một số đông ngƣời cùng chức năng hoặc nghề nghiệp, thành một lực lƣợng” [35, tr.
Theo Từ điển Tổ chức và Công tác tổ chức của tác giả Lê Quang Thƣởng thì: “Đội ngũ là tập hợp số đông ngƣời, xếp thành hàng ngũ, để thực hiện công việc nào đó. Các thành viên trong một tổ chức hợp thành đội ngũ để thực hiện mục tiêu chung của cách mạng” [17, tr. Nhƣ vậy, có thể hiểu đội ngũ công chức là tập hợp nhiều ngƣời đƣợc xác định là công chức, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Đƣợc tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc theo quy định của pháp luật, tạo thành một khối thống nhất và hoạt động theo sự phân công, phối hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc.
Từ những phân tích trên, có thể đi đến khái niệm Xây dựng đội ngũ công chức cấp huyện nhƣ sau: Đó là tổng thể các biện pháp của các cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện trong xây dựng tiêu chuẩn; đánh giá; quy hoạch; đào tạo, bồi dưỡng; luân chuyển, điều động; bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức. nhằm phát huy năng lực đội ngũ công chức theo hướng bố trí đủ số lượng, cơ cấu hợp lý, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu hoạt động của bộ máy nhà nước trong tình hình mới. Phân loại và đặc điểm của đội ngũ công chức cấp huyện 1. Phân loại công chức cấp huyện 1.
Theo đặc thù và tính chất công việc Nhằm phục vụ cho việc quy hoạch công chức, đáp ứng vêu cầu của các loại công việc, tạo ra sự cân đối trong việc sắp xếp và quản lý công chức, 11 ngƣời ta phân công chức thành 4 loại: Công chức lãnh đạo: Là những công chức giữ cƣơng vị chỉ huy trong điều hành công việc. Tùy theo tính chất công việc ở các vị trí khác nhau mà phân ra công chức lãnh đạo ở các cấp độ cao thấp khác nhau. Công chức lãnh đạo là nhƣng ngƣời đƣợc quyền ra các quyết định quản lý, tổ chức và điều hành những ngƣời dƣới quyền thực hiện công việc. Công chức lãnh đạo đƣợc giao những thẩm quyên, trách nhiệm nhất định.
Thẩm quyền và trách nhiệm đó gắn với chức vụ ngƣời lãnh đạo đảm nhiệm, thẩm quyền càng cao thì trách nhiệm càng nặng nề. Công chức chuyên gia: Là những ngƣời có trình độ chuyên môn kỹ thuật, có khả năng nghiên cứu, đề xuất những phƣơng hƣớng, quan điểm và thực thi công việc chuyên môn phức tạp.