Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã dựa trên khung năng lực. Thực trạng chất lượng đội ngũ công chức cấp xã tại huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng dựa trên khung năng lực. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã tại huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng dựa trên khung năng lực.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ DỰA TRÊN KHUNG NĂNG LỰC 1. Một số khái niệm liên quan 1.1 Công chức Mặc dù chế độ công vụ đã tồn tại và phát triển trên 3 thế kỷ tính từ thời điểm xuất hiện thuật ngữ công chức vào năm 1847 ở Anh nhưng cho đến nay vẫn chưa có một quan niệm thống nhất về công chức cho tất cả các quốc gia trên thế giới, một số quốc gia định nghĩa công chức cụ thể: Công chức là những người làm công tác nghiệp vụ trong bộ máy hành chính của các bộ thuộc Chính phủ (Anh, Thái Lan, Xin-ga-po.) Còn đối với các nước Đức, Hà Lan, Hung-ga-ri. xác định phạm vi công chức bao gồm cả những người thực thi công vụ tại các tổ chức cung ứng dịch công hoặc cả ngành Lập pháp, Tư pháp. Được trích dẫn bởi Tạ Ngọc Hải (2008), Tạp chí Tổ chức Nhà nước, Số 5/2008).
Theo từ điển tiếng Việt: “Công chức là người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước cấp”. Luật số 52/2019/QH14 ngày 25 tháng 11 năm 2019 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật viên chức quy định “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ 11 quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.2 Công chức cấp xã Luật số 52/2019/QH14 ngày 25/11/2019 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật viên chức quy định: “Công chức cấp xã là công dân Việt nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Công chức cấp xã gồm 06 chức danh sau đây: Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch và Văn hóa - xã hội.3 Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã * Khái niệm chất lượng Theo từ điển tiếng Việt, chất lượng được định nghĩa: “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của mỗi con người, một sự vật, một sự việc” Chất lượng là dấu hiệu có tính khách quan, là cái vốn có của sự vật, hiện tượng, do những thuộc tính, những yếu tố cấu thành quy định. Thuộc tính của sự vật là những tính chất, những trạng thái, những yếu tố cấu thành sự vật.
Đó là những cái vốn có của sự vật từ khi sự vật được sinh ra hoặc được hình thành trong sự vận động và phát triển của nó. Trong mỗi lĩnh vực khác nhau với mục đích khách nhau có nhiều quan điểm về chất lượng khác nhau. * Khái niệm chất lượng đội ngũ công chức cấp xã Để có thể hiểu một cách tường tận khái niệm chất lượng đội ngũ công chức cấp xã là gì, trước tiên ta sẽ cùng phân loại nguồn nhân lực theo phạm vi nghiên cứu: 12 Nghiên cứu phạm vi rộng (xã hội), nguồn nhân lực được định nghĩa là nguồn cung cấp sức lao động cho toàn xã hội. Bao gồm toàn bộ người dân phát triển một cách bình thường, là một yếu tố thúc đẩy tiến bộ của kinh tế - xã hội, là khả năng lao động của xã hội theo nghĩa hẹp, bao gồm nhóm dân cư ở trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động, tạo ra sản phẩm cho xã hội là bao gồm yếu tố vật chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động sản xuất.
Xét theo phạm vi nghiên cứu hẹp (đơn vị, tổ chức) nguồn nhân lực lại được hiểu là toàn bộ những cá nhân tham gia vào bất cứ các hoạt động nào của tổ chức - đây là nguồn tài nguyên quý giá và vô hạn của tổ chức. Trong khuôn khổ của bài luận văn, nguồn nhân lực được xét theo phạm vị nghiên cứu hẹp, tại tổ chức là Ủy ban nhân dân cấp xã với nguồn nhân lực là đội ngũ công chức. Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã là chất lượng của tập hợp công chức cấp xã trong một địa phương. Chất lượng này không đơn giản là sự tập hợp về số lượng mà là sự tổng hợp sức mạnh của toàn bộ đội ngũ công chức.
Sức mạnh này bắt nguồn từ phẩm chất vốn có trong mỗi con người, mỗi cá thể và nó được nâng cao bởi tính thống nhất, chiến lược của tổ chức thông qua các hoạt động như giáo dục đào tạo, phân công, quản lý, đãi ngộ, khen thưởng và kỷ luật. Vậy, chất lượng của đội ngũ công chức bao gồm: Chất lượng của từng công chức, cụ thể là: sức khỏe, phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ý thức trách nhiệm và khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Chất lượng của từng công chức là yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng của cả đội ngũ. Chất lượng của đội ngũ được thể hiện ở số lượng, quy mô, cơ cấu của đội ngũ công chức có tỷ lệ cân đối, tổ chức khoa học, hợp lý và phù hợp với chiến lược phát triển của tổ chức, địa phương.
13 Từ những đặc điểm trên, có thể khái niệm: Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã là hệ thống những giá trị được kết cấu thành một chỉnh thể toàn diện được thể hiện qua các mặt: sức khỏe, trình độ năng lực, kỹ năng nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật và khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mỗi công chức và cơ cấu, số lượng của cả đội ngũ công chức cấp xã ở địa phương.4 Khung năng lực - Năng lực: Theo Từ điển Tiếng Việt (1997) thì năng lực hiểu theo hai nghĩa: một là, năng lực là những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì (ví dụ: năng lực tư duy của con người); hai là, năng lực là khả năng để thực hiện tốt một công việc (ví dụ, có năng lực chuyên môn, năng lực tổ chức). Khái niệm về năng lực của Ủy ban Châu Âu (2005) dựa trên khái niệm của nhà tâm lý học Benjamin Bloom (1956) như sau: "Năng lực là sự kết hợp của kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp với một tình huống nào đó". Trong khuôn khổ bài luận văn này, năng lực có thể hiểu là: "năng lực thực thi nhiệm vụ của một cá nhân, là khả năng thực hiện một hoạt động, giải quyết một (loại) công việc cụ thể trên thực tế". Khung năng lực: Theo Lucia và Lepsinger (1999) định nghĩa khung năng lực là một công cụ mô tả xác định các năng lực cần thiết để thực hiện vai trò hiệu quả trong tổ chức và giúp tổ chức đạt được các mục tiêu chiến lược của mình.
Theo Duboi và Rothwell (2004) khung năng lực là bản mô tả các năng lực cần thiết và đầy đủ để thực thi thành công công việc của một vị trí, một nhóm, của một đơn vị hoặc của cả tổ chức. Khung năng lực theo vị trí công việc được thiết kế một cách hệ thống theo các cấp độ công việc của mỗi nhóm ngành/nghề hoặc nhóm chức năng trong tổ chức. Nội dung của khung năng lực mỗi vị trí công việc bao gồm tên 14 công việc, tên các loại năng lực cần có, cấp độ năng lực cần đạt của mỗi loại năng lực. Khung năng lực thường gồm bốn phần: Năng lực chung (cốt lõi): gắn với yêu cầu chuyên biệt của tổ chức, đơn vị cho tất cả các vị trí công việc.
Năng lực chuyên môn gắn với yêu cầu chuyên biệt của công việc theo đặc thù lĩnh vực nghề nghiệp, kỹ năng cứng/kỹ năng thực hành nghề nghiệp. Năng lực lãnh đạo yêu cầu đối với các công việc có tính chất lãnh đạo. Năng lực bổ trợ thường bao gồm những kỹ năng mềm có tác dụng hỗ trợ, tạo thuận lợi cho quá trình thực hành nghiệp vụ.5 Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã dựa trên khung năng lực Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã là tổng hợp các loại hình, phương pháp, chính sách, và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng của từng công chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã sẽ góp phần làm tăng ý thức, trách nhiệm lao động, góp phần làm tăng năng suất lao động cho tập thể, xã hội.
Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã dựa trên khung năng lực: "là ứng dụng khung năng lực trong các hoạt động quản lý nhân sự như: xác định nhu cầu nâng cao chất lượng; tuyển dụng; đào tạo bồi dưỡng; bố trí và đánh giá đội ngũ công chức công chức từ đó đưa ra các giải pháp có tác động tích cực đến năng lực làm việc của mỗi công chức cũng như năng lực làm việc của đội ngũ công chức; sắp xếp hợp lý, hài hòa về số lượng và cơ cấu cũng như mối quan hệ giữa các cá nhân trong tập thể, tinh thần phối hợp, sự đoàn kết, hỗ trợ lẫn nhau trong thực thi nhiệm vụ; kết hợp với đó là việc cải thiện môi trường làm việc, đảm bảo chăm lo sức khỏe, tinh thần cho đội 15 ngũ công chức luôn duy trì ở trạng thái tốt nhất nhằm hoàn thành công việc chuyên môn hướng tới mục tiêu KT-XH, AN - QP của địa phương". Trong phạm vi của bài nghiên cứu này, tác giả đề cập đến xây dựng khung năng lực cho đội ngũ công chức cấp xã, ứng dụng khung năng lực trên vào các hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ.