CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Bồi dưỡng Thuật ngữ “Bồi dưỡng” là một khái niệm khá phổ biến trong các văn bản liên quan đến nhân sự trong bộ máy nhà nước hoặc khu vực tư nhân tại Việt Nam.Tuy nhiên việc tiếp cận thuật ngữ này có thể đến từ nhiều khía cạnh khác nhau trong từng bối cảnh hoặc môi trường nhất định. Theo từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Giáo dục năm 1998, bồi dưỡng được định nghĩa là quá trình cập nhật, trang bị, và nâng cao kiến thức đã được đào tạo, nhằm mục đích củng cố, mở rộng, và phát triển một cách có hệ thống những kỹ năng và chuyên môn nghiệp.[28] UNESCO định nghĩa: Bồi dưỡng là một hoạt động nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp.
Hoạt động này xảy ra khi các cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền có nhu cầu muốn nâng cao trình độ chuyên môn, các kỹ năng nhằm đáp ứng tốt hơn trong quá trình lao động. Theo Đại từ điển do Nguyễn Như Ý chủ biên (Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1998), “Bồi dưỡng là làm cho khỏe thêm, mạnh thêm và tốt hơn, giỏi hơn”. Như vậy, bồi dưỡng sẽ làm khỏe thêm, mạnh thêm, tốt hơn và giỏi hơn thêm dựa trên những nền tảng có sẵn của mỗi cá nhân hay một đối tượng nào đó.
[34] Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2010), “Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm sức của cơ thể bằng chất bổ và tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”.Theo định nghĩa này, có thể hiểu bồi dưỡng là quá trình bổ sung những dưỡng chất, làm tăng thêm sức khỏe cơ thể, nâng cao năng lực hoặc phẩm chất của con người. Theo nghĩa rộng, hoạt động bồi dưỡng là quá trình giáo dục để hoàn thiện năng lực và phẩm chất con người theo mục đích xác định. Như vậy, bồi dưỡng đang được hiểu là diễn ra không chỉ trong nhà trường mà còn trong cuộc sống thực tiễn, không những cung cấp kiến thức, năng lực nghề nghiệp cho người 10 lao động trong nhà trường mà còn liên tục được bồi dưỡng, rèn luyện và kế thừa nhằm phát triển phẩm chất và năng lực của họ sau khi quá trình đào tạo đã chấm dứt.
Quá trình này không chỉ giải quyết các vấn đề giáo dục và đào tạo mà còn mang tính chất tổng hợp với việc xây dựng kiến thức, kỹ năng và tư duy cho người học. Trong quá trình này, người ta sẽ phải áp dụng các phương pháp giảng dạy sáng tạo để khai thác tiềm năng của người học và khám phá các giải pháp mới để ghi điểm trong việc bồi dưỡng phẩm chất con người. Theo nghĩa hẹp, bồi dưỡng là quá trình rèn luyện, học hỏi những kiến thức, kỹ năng mới hoặc củng cố lại những nội dung đã biết, nâng cao trình độ chuyên môn, nhận thức và đạo đức, nhân cách. Hoạt động bồi dưỡng diễn ra sau quá trình người học hoàn thành nhiệm vụ huấn luyện và đào tạo tại nhà trường.
Như vậy, theo nghĩa hẹp, bồi dưỡng là vận dụng kiến thức đã được đào tạo nhằm giải quyết những nhiệm vụ mới khác với kiến thức cơ bản mà họ đã được đào tạo trước đấy. Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về hoạt động bồi dưỡng công chức đã được giải thích như sau: “Hoạt động bồi dưỡng là việc trang bị, cập nhật và nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”. Thuật ngữ “bồi dưỡng” được sử dụng để chỉ việc cập nhật và bổ sung kiến thức, kỹ năng cần thiết, từ sau khi đã qua quá trình đào tạo cơ bản, để không ngừng nâng cao hiểu biết. Nó mang ý nghĩa là cung cấp kiến thức chuyên môn và có tính ứng dụng.
Bồi dưỡng thường được tiến hành sau quá trình đào tạo ban đầu để bổ sung và cập nhật kiến thức chuyên môn, học hỏi những thông tin mới trong khoảng thời gian ngắn với nền tảng kiến thức đã có từ quá trình đào tạo ban đầu. Theo một số phân tích và hiểu biết về hoạt bồi dưỡng đã được trình bày, chúng ta có thể hiểu bồi dưỡng là một hoạt động nhằm củng cố, cung cấp một số lượng kiến thức, kỹ năng nhất định đã được xem xét và chọn lựa nội dung đến một số đối tượng dựa trên cơ sở kiến thức, kỹ năng, thái độ và phương pháp làm việc của một số đối tượng cụ thể được cử tham gia bồi dưỡng. Đây là quá trình mở rộng khả năng và phẩm chất cho người được đào tạo. Công chức Theo khoản 2, Điều 4, Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 quy định: "Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp làm việc trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), thuộc biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập mức lương được chi trả theo mức lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật".
Và cùng ngày 25/11/2019, Luật số 52/2019/QH14 “Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức” được ban hành.Theo điều 4, công chức được xác định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.”[18] [19] Theo những quy định nêu trên, có thể hiệu một cá nhân được xem là công chức khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện như sau: (i) cá nhân đó là công dân Việt Nam; (ii) Được các cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc tuyển dụng theo chức vụ, ngạch, chức danh cụ thể trong bộ máy nhà nước; (iii) Được xét trong biên chế nhà nước và hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo quy định; (iv) Làm việc tại các cơ quan, tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong bộ máy 12 nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, tỉnh, cấp huyện và trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội và Công an nhân dân. Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu này, công chức được hiểu là một cá nhân mang quốc tịch Việt Nam; người đã trải qua quá trình tuyển dụng và được bổ nhiệm vào các ngạch, chức vụ, chức danh để giữ một vị trí làm việc cụ thể trong một cơ quan nhà nước. Công việc của họ liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ công vụ và thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn của cơ quan theo các chức năng và thẩm quyền được quy định bởi pháp luật. Ngoài ra, họ cũng làm việc đều đặn và liên tục, được tuyển vào biên chế và nhận lương từ ngân sách nhà nước.
Uỷ ban nhân dân cấp huyện Tại Điều 8, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 thì thuật ngữ UBND được quy định cụ thể như sau: - UBND được bầu bởi Hội đồng nhân dân cùng cấp, là một tổ chức thực hiện theo chủ trương, sự chỉ đạo của Hội đồng nhân dân, UBND được hiểu là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (Cấp tỉnh, huyện, xã). UBND chịu trách nhiệm Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên, nhân dân ở địa phương. - UBND bao gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các cơ quan chuyên môn giúp việc, số lượng Phó Chủ tịch UBND các cấp được quy định cụ thể bởi Chính phủ theo từng cấp. UBND cấp huyện được bầu bởi Hội đồng nhân dân cấp huyện, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính của Nhà nước ở địa phương.UBND cấp huyện làm việc theo Nghị quyết, chủ trương do Hội đồng nhân dân cấp huyện đưa ra theo nhiệm kỳ, UBND thực hiện nhiệm vụ quản lý các lĩnh vực kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện.
Đồng thời, UBND chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cấp huyện và các cơ quan hành chính Nhà nước ở cấp trên, nhân dân địa phương. Cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện Theo quy định tại Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ, nguyên tắc bảo đảm bao quát đủ chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước 13 của UBND cấp huyện và tính thống nhất, thông suốt về quản lý ngành, lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở đã được áp dụng trong hoạt động của các CQCM thuộc UBND cấp huyện. Các phòng và cơ quan tương đương phòng hoạt động theo các nguyên tắc này. Đặc biệt, tổ chức quản lý đa ngành, đa lĩnh vực đã được thực hiện để bảo đảm sự linh hoạt và hiệu quả trong công tác quản lý.
Bên cạnh đó, tủy theo đặc điểm của từng đơn vị hành chính cấp huyện như điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế - xã hội, dân số khác nhau, do đó đòi hòi quá trình tổ chức phải linh hoạt, phù hợp với từng địa phương nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu nhiệm vụ đặt ra. Mục tiêu của việc điều chỉnh này là để thúc đẩy cải cách hành chính nhà nước và đảm bảo sự tinh gọn, hợp lý trong tổ chức và hoạt động của các CQCM thuộc UBND cấp huyện. Điều này cũng nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý ngày càng phức tạp và đa dạng của xã hội hiện đại. Theo Khoản 1, Điều 3 của Nghị định số 37/2014/NĐ- CQCM có nhiệm vụ tham mưu và hỗ trợ UBND cấp huyện trong việc quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực tại địa phương.