phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chƣơng, 7 tiết. 7 Luan van Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC NGẠCH CHUYÊN VIÊN 1. Các khái niệm có liên quan 1. Khái niệm công chức, chuyên viên, ngạch chuyên viên Khái niệm công chức: Công chức là khái niệm đƣợc dùng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới nhƣng đƣợc hiểu không giống nhau, thậm chí trong phạm vi một quốc gia, quan niệm về công chức qua các thời kỳ cũng khác nhau.
Ở đa số quốc gia, công chức đƣợc hiểu là những công dân đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm giữ chức vụ thƣờng xuyên trong một công sở của nhà nƣớc ở trung ƣơng hay ở địa phƣơng, ở trong nƣớc hay ở nƣớc ngoài, đƣợc xếp vào một ngạch và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Theo đó, một ngƣời để trở thành ngƣời công chức cần phải thỏa mãn các điều kiện sau: - Là công dân của nƣớc đó; - Đƣợc tuyển dụng bằng hình thức thi tuyển; - Giữ một cộng vụ thƣờng xuyên; - Làm việc trong một công sở; - Lĩnh lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Những ngƣời làm việc trong cơ quan nhà nƣớc nhƣng không đủ các điều kiện trên là viên chức nhà nƣớc. Ở một số nƣớc, công chức chỉ giới hạn trong phạm vị những ngƣời tham gia hoạt động quản lý nhà nƣớc.
Có một số nƣớc khác, ngoài những ngƣời thực hiện trực tiếp các hoạt động quản lý nhà nƣớc, công chức còn đƣợc áp dụng cho những ngƣời làm trong các cơ quan dịch vụ công. 8 Luan van Ở Việt Nam, khái niệm công chức xuất hiện vào năm 1950, khi Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 76/SL về việc ban hành Quy chế công chức vào ngày 20/5/1950. Theo đó, công chức đƣợc hiểu là "Những công dân Việt Nam đƣợc chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nƣớc đều là công chức theo quy chế này, trừ những trƣờng hợp do Chính phủ quy định" [8, tr. Nhƣ vậy, Sắc lệnh 76 quan niệm về cán bộ, công chức rất hẹp, chỉ bao gồm những ngƣời làm việc cho các cơ quan của Chính phủ.
Trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nƣớc nhà và ngay cả sau ngày đất nƣớc thống nhất (1975), Nhà nƣớc ta thực hiện cơ chế nhân sự theo khối thuộc các nƣớc xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu. Tất cả những ngƣời làm việc trong cơ quan hành chính nhà nƣớc, cơ quan nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp, đơn vị tổ chức sản xuất kinh doanh của nhà nƣớc đều đƣợc gọi chung là cán bộ công nhân viên chức. Theo quan điểm này, khái niệm công chức không đƣợc xác định rõ. Cán bộ, công nhân viên là những ngƣời đƣợc tuyển dụng, giao giữ một nhiệm vụ, trong biên chế nhà nƣớc và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc, làm việc trong các cơ quan Đảng, đoàn thể, nhà nƣớc, lực lƣợng vũ trang, doanh nghiệp nhà nƣớc và các tổ chức xã hội mà nhà nƣớc cấp biên chế.
Cán bộ và nhân viên trong thời kỳ này đƣợc phân biệt thông qua trình độ và tuyển dụng thông qua cơ chế xét tuyển. Những ngƣời có trình độ từ trung cấp trở lên gọi là cán bộ, còn lại những ngƣời có trình độ thấp hơn gọi là nhân viên. Từ khi đất nƣớc đổi mới, quan niệm về công chức đƣợc định hình lại. Theo Điều 1 Nghị định 169/1990/NĐ-HĐBT ngày 25/5/1991 về công chức nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là "công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thƣờng xuyên trong một công sở nhà nƣớc ở Trung ƣơng hay địa phƣơng; ở trong nƣớc hay ngoài nƣớc đã đƣợc xếp vào 9 Luan van một ngạch công chức, bậc công chức, đƣợc hƣởng lƣơng do ngân sách nhà nƣớc cấp" [15 tr.
Ngày 26/2/1998, Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức và đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2003. Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh là công dân Việt Nam, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Tuy nhiên, Pháp lệnh không đƣa ra giới hạn để phân biệt thế nào là cán bộ, thế nào là công chức; ai là cán bộ, ai là công chức. Hƣớng dẫn thi hành Pháp lệnh có nhiều văn bản của các cơ quan nhà nƣớc, trong đó có Nghị định 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 và Nghị định 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ trong các cơ quan nhà nƣớc.
Qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung, ngày 9/12/2008 Quốc hội ban hành Luật Cán bộ, công chức có hiệu lực thực hiện từ ngày 01/01/2010 quy định cụ thể hơn về công chức, phân biệt, giải thích rõ cán bộ, công chức: "Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật" [23, tr. 10 Luan van Nhƣ vậy, những văn bản trƣớc Luật Cán bộ, công chức năm 2008 không định nghĩa công chức bằng việc nêu lên những đặc điểm mô tả thế nào là công chức. Để xác định ai là công chức phải căn cứ vào sự liệt kê các đối tƣợng công chức. Để hƣớng dẫn thi hành Luật Cán bộ, công chức, ngày 25/01/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2010/NĐ-CP quy định những ngƣời là công chức.
Theo Nghị định này, căn cứ để xác định công chức gồm: Là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc hoặc đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, của tổ chức chính trị - xã hội, trong Văn phòng Chủ tịch nƣớc, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nƣớc, trong các cơ quan Bộ và các tổ chức khác do Chính phủ, Thủ tƣớng Chính phủ thành lập, trong các cơ quan hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, trong hệ thống Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, trong cơ quan, đơn vị của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập. Công chức đƣợc phân loại theo ngạch đƣợc bổ nhiệm vào vị trí công tác. Theo ngạch đƣợc bổ nhiệm gồm các loại công chức sau: + Công chức loại A gồm những ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tƣơng đƣơng. + Công chức loại B gồm những ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tƣơng đƣơng.
+ Công chức loại C gồm những ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tƣơng đƣơng. + Công chức loại D gồm những ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tƣơng đƣơng và ngạch chuyên viên. 11 Luan van Theo vị trí công tác gồm có: Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý (chỉ huy, điều hành) và công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý (trực tiếp thực thi công việc). Mặc dù có nhiều nỗ lực trong xây dựng Luật nhƣng khái niệm công chức theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 vẫn còn phạm vi, đối tƣợng rộng bao gồm cả công chức trong các cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân, cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân.
Cách quy định của pháp luật nhƣ vậy vẫn chƣa hợp lý vì hoạt động của những ngƣời làm việc trong tổ chức chính trị- xã hội về nguyên tắc chung đều phải chấp hành pháp luật của nhà nƣớc nhƣng hoạt động của họ chủ yếu lại dựa vào điều lệ của tổ chức đó, tuy nhiên các tổ chức đó đều hoạt động tuân thủ theo pháp luật. Chuyên viên, ngạch chuyên viên: Trong các cơ quan của Đảng, nhà nƣớc và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội có nhiều đối tƣợng công chức, viên chức ở những ngạch khác nhau cùng công tác. Họ đƣợc phân biệt với nhau bằng ngạch công chức, đây là tên gọi thể hiện thứ bậc về năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức, viên chức. Hiện nay, theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008, ngạch công chức bao gồm: Chuyên viên cao cấp và tƣơng đƣơng; Chuyên viên chính và tƣơng đƣơng; Chuyên viên và tƣơng đƣơng; Cán sự và tƣơng đƣơng; Nhân viên.
Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nƣớc, Chuyên viên là thuật ngữ để chỉ những công chức làm việc trong các cơ quan nhà nƣớc, các cơ quan của Đảng, các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội, đƣợc xếp vào ngạch chuyên viên hoặc tƣơng đƣơng theo quy định của pháp luật. Khi đƣợc bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên, công chức, viên chức phải đảm bảo những tiêu chuẩn và thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của ngạch bậc sau: 12 Luan van Về nhiệm vụ, chuyên viên phải biết xây dựng và đề xuất những phƣơng án cơ chế quản lý một phần hoặc một lĩnh vực nghiệp vụ trên cơ sở những cơ chế đã có của cấp trên nhằm thể hiện sát với cơ sở gồm các việc: Xây dựng các phƣơng án kinh tế - xã hội, các kế hoạch, các quy định cụ thể để triển khai công việc quản lý; Xây dựng các cơ chế, các quyết định cụ thể của từng nội dung quản lý theo quy định hƣớng dẫn nghiệp vụ của cấp trên phù hợp với tình hình thực tế; Tổ chức hƣớng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và đề xuất các biện pháp điều chỉnh để các quyết định trên đƣợc thực hiện nghiêm túc và đạt hiệu quả cao; Tổ chức việc tập hợp tình hình quản lý, tiến hành phân tích tổng kết, đánh giá hiệu quả và báo cáo nghiệp vụ lên cấp trên; Chịu sự chỉ đạo nghiệp vụ của viên chức quản lý nghiệp vụ cấp cao hơn trong cùng hệ thống quản lý nghiệp vụ.