Chương 1 LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH 1. Khái niệm, nguyên tắc quản lý nhà nước về bồi dưỡng công chức 1. Công chức và bồi dưỡng công chức Công chức và bồi dưỡng công chức là vấn đề được nhiều nghiên cứu đề cập đến. Nghiên cứu về công chức, đa số thống nhất cho rằng, công chức là công dân của quốc gia đó, được tuyển dụng, bổ nhiệm, giao giữ một nhiệm vụ, công vụ thường xuyên trong bộ máy nhà nước, được phân loại và xếp vào một vị trí nhất định (theo ngạch/bậc hoặc theo vị trí việc làm) hưởng lương từ ngân sách nhà nước {13, 18, 52}.
Đặc điểm chung của công chức là: (i) Là công dân của quốc gia đó; (ii) Đảm nhiệm nhiệm vụ, công vụ do tuyển dụng, bổ nhiệm; (iii) Thực hiện nhiệm vụ, công vụ thường xuyên (không bị giới hạn bởi nhiệm kỳ); (iv) Được xếp vào một vị trí nhất định (theo ngạch, bậc- nếu là theo chế độ chức nghiệp và vị trí việc làm- nếu là theo chế độ việc làm; (v) Hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Phạm vi công chức ở các nước là không giống nhau, phụ thuộc vào những đặc thù của nước đó (về kinh tế, chính trị, pháp lý, văn hóa. Do đó, có những nước, xác định phạm vi công chức rộng, gồm cả những người làm việc trong các bộ phận cung cấp dịch vụ công; có những nước xác định phạm vi công chức hẹp, chỉ gồm những người làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước. Ngay trong một nước, phạm vi công chức cùng có thể thay đổi bởi sự thay đổi thể chế quản lý của chính quốc gia đó.
Hiện nay, ở nước ta, công chức được hiểu là "Là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.”1 1 Khoản 2, Điều 2, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2019). 9 e Căn cứ vào lĩnh vực ngành, nghề, chuyên môn, nghiệp vụ, công chức được phân loại theo ngạch công chức tương ứng sau đây: - Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương; - Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương; - Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương; - Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch nhân viên; - Loại đối với ngạch công chức quy định tại điểm e khoản 1 Điều 42 của Luật này theo quy định của Chính phủ2. Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại như sau: - Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; - Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Ngạch công chức bao gồm: - Chuyên viên cao cấp và tương đương; - Chuyên viên chính và tương đương; - Chuyên viên và tương đương; - Cán sự và tương đương; - Nhân viên.
- Ngạch khác theo quy định của Chính phủ3. Công chức là nguồn nhân lực chủ yếu để thực thi công vụ, loại hoạt động "mang tính quyền lực nhà nước- pháp lý, do các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đảm nhiệm theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước, phục vụ nhân dân, dân tộc, nhà nước" {13, tr. 32} thông qua những hoạt động như (tùy thuộc vào vị trí việc làm, thẩm quyền): ban hành/tham gia quyết định quản lý nhà nước (quyết định chính sách, quyết định quy phạm, quyết định cá biệt); nghiên cứu, tham mưu, đề xuất các vấn đề của 2 Khoản 1, Điều 34, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2019). 3 Khoản 1, Điều 42, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2019).
10 e quản lý nhà nước; trực tiếp thực hiện các hoạt động tổ chức thực tiễn; đánh giá, kiểm tra, thanh tra. Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, công chức phải có được năng lực cần thiết (kiến thức, kỹ năng, thái độ). Mặc dù, khi tuyển dụng, bổ nhiệm, người được tuyển dụng, bổ nhiệm đã phải đủ điều kiện, tiêu chuẩn do pháp luật quy định trước, song sự vận động, phát triển liên tục của thực tiễn cũng như của quản lý nhà nước dẫn đến xuất hiện những yêu cầu, đòi hỏi cao hơn về năng lực thực thi công vụ. Điều này tất yếu dẫn đến phải có hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức (sau tuyển dụng) nhằm góp phần bảo đảm năng lực thực thi công vụ của công chức đáp ứng được yêu cầu vận động/thay đổi/phát triển của thực tiễn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từ đó, tạo tiền đề về nhân lực để xây dựng được nền công vụ chính quy, chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả.
Nếu như đào tạo "là một quá trình trang bị cho người học một hệ thống kiến thức, kỹ năng để đảm nhiệm một công việc lâu dài, mang tính nghề nghiệp, thường được thực hiện trong vài năm và được cấp văn bằng trong hệ thống giáo dục quốc dân" {12, tr.20} thì "bồi dưỡng công chức là quá trình bổ sung, cập nhật kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực, kỹ năng nghiệp vụ của cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu công việc, phù hợp với sự phát triển của đất nước trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" {12, tr. BDCC có ý nghĩa quan trọng đối với công chức cũng như với nền công vụ. Đối với công chức, BDCC giúp công chức được cập nhật, bổ sung, phát triển kiến thức, kỹ năng cần phải có (trong hiện tại và tương lai), có được đạo đức, thái độ, tâm lý đúng đắn trước những yêu cầu mới của nhiệm vụ, công vụ, góp phần giúp công chức bù đắp những thiếu hụt về năng lực để theo kịp thực tiễn. Về phía nền công vụ, BDCC góp phần xây dựng đội ngũ công chức có phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng, ý thức, trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, tinh thông về chuyên môn, nghiệp vụ, qua đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
11 e Trên cơ sở quan niệm về đào tạo, bồi dưỡng, điều chỉnh pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng (Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Luật Giáo dục năm 2019, Luật Giáo dục đại học năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Nghị định số 101/2017/NĐ- CP và các văn bản pháp luật có liên quan) cũng như thực tế, có thể thấy, đào tạo và bồi dưỡng khác nhau (về mục tiêu, hình thức, thời gian. Tiêu chí TT Đào tạo Bồi dưỡng so sánh - Đào tạo nghề nghiệp: Nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, Trang bị, cập nhật, nâng cao thích ứng với môi trường kiến thức, kỹ năng, thái độ hội nhập quốc tế; bảo đảm trong thực thi nhiệm vụ, 1 Mục tiêu nâng cao năng suất, chất công vụ được giao, góp lượng lao động; tạo điều phần giúp người học đáp kiện cho người học sau ứng yêu cầu trong từng thời khi hoàn thành khóa học điểm. có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học trình độ cao hơn. - Đào tạo đại học: Đào tạo nhân lực trình độ cao, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học và công 12 e nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế; Người học được phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ; có tri thức, kỹ năng, trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng nắm bắt tiến bộ khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo, khả năng tự học, sáng tạo, thích nghi với môi trường làm việc; có tinh thần lập nghiệp, có ý thức phục vụ Nhân dân.
Chính quy; vừa làm vừa Tập trung; bán tập trung; từ 3 Hình thức học; từ xa xa 4 Thời gian Dài hạn Ngắn hạn Người học kết thúc chương Người học kết thúc chương Văn bằng, trình bồi dưỡng được cấp 5 trình đào tạo được cấp văn chứng chỉ chứng chỉ/chứng nhận theo bằng theo quy định quy định. Khái niệm quản lý nhà nước về bồi dưỡng công chức Quản lý nhà nước, là một dạng quản lý xã hội, "là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động…Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung" {9, tr. 13 e Quản lý nhà nước, theo nghĩa rộng, bao gồm các hoạt động do nhà nước thực hiện nhằm quản lý xã hội. Ở phương diện này, quản lý nhà nước bao gồm các hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Tiếp cận từ phương diện quản lý công, quản lý nhà nước có nghĩa hẹp hơn, "là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do các cơ quan trong hệ thống Chính phủ từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, nhằm duy trì và phát triển cao các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp của con người trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" {20, tr.