CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG VIÊN CHỨC NGÀNH Y TẾ 1. Một số khái niệm thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức ngành y tế 1. Khái niệm viên chức Viên chức là một khái niệm mang tính lịch sử. Có rất nhiều quan niệm không giống nhau về viên chức; hơn nữa quan niệm về viên chức còn có sự khác biệt theo thời điểm.
Trong cùng một quốc gia, ở những thời điểm khác nhau còn ghi nhận được những khái niệm về viên chức không hoàn toàn giống nhau. Nhưng có thể nêu ngắn gọn và tổng quát nhất thì viên chức bao gồm viên chức công và viên chức tư. Hai đối tượng này không có sự phân biệt về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo từng ngành nghề. Khác với viên chức tư, viên chức công (viên chức khu vực Nhà nước, viên chức nhà nước) được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
Cụ thể hơn, viên chức công được định nghĩa là những người LĐ có nghiệp vụ, chuyên môn đã được Nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm vào một chức nghiệp nào đó trong hệ thống các đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công. Với phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu viên chức công (có thể gọi tắt là viên chức). Theo quy định ở Điều 2 của Luật Viên chức 2010: Viên chức là công dân VN được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc trong cơ quan đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng, được hưởng lương từ quỹ lương của cơ quan đơn vị sự nghiệp công lập theo luật định[18]. Với định nghĩa được nêu trên, các đặc điểm của viên chức nhà nước gồm có: - Đối tượng viên chức phải là công dân Việt Nam.
Tuy nhiên, đây là điểm giới hạn của việc xây dựng đội ngũ viên chức ở nước ta. Vì trong tình hình hội nhập quốc tế và mở cửa hiện nay, việc sử dụng nguồn lao động là người nước ngoài đã góp phần nâng cao cả số lượng và quan trọng là chất lượng của nguồn nhân lực, đặc biệt trong những lĩnh vực chuyên môn đòi hỏi sự học hỏi kinh nghiệm triển khai và kiến thức của nguồn nhân lực từ người nước ngoài như trong 10 giáo dục và y tế. Tuy nhiên, xét trên cơ sở các căn cứ pháp lý hiện hành thì để được trở thành viên chức thì phải là công dân Việt Nam. Có thể chỉ có quốc tịch VN, hoặc có nhiều quốc tịch song trong số đó có một quốc tịch VN.
Do đó, để trở thành đội ngũ viên chức thì nếu là người nước ngoài thì phải nhập tịch Việt Nam. - Về chế độ tuyển dụng thì viên chức phải là người được tuyển dụng dựa theo đề án vị trí việc làm. Do đó, căn cứ đầu tiên để tổ chức tuyển dụng qua hình thức xét tuyển hoặc thi tuyển là dựa vào đề án vị trí việc làm đã được xây dựng. Vị trí việc làm được định nghĩa theo quy định tại Điều số 7 - Luật Viên chức 2010: “Vị trí việc làm là công việc/ nhiệm vụ gắn liền tương ứng với chức danh nghề nghiệp hay chức vụ quản lý, là căn cứ để xác định số lượng người làm việc cần thiết, xác định cơ cấu viên chức nhằm tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong các cơ quan đơn vị sự nghiệp công lập”.
Mặt khác, theo quy định tại Điều số 20 của Luật Viên chức 2010 đối với chế độ tuyển dụng, cụ thể đó là: “Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ dựa vào vị trí việc làm, nhu cầu công việc, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ lương của cơ quan đơn vị sự nghiệp công lập”[18]. - Về nơi làm việc, viên chức sẽ được bố trí làm việc tại Đơn vị sự nghiệp công lập trong Bộ máy nhà nước. Theo điều 9 của Luật viên chức 2010 có nêu rõ: Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, tổ chức chính trị, tổ chức CT-XH thành lập theo luật định, có tư cách pháp nhân, phục vụ QLNN và cung cấp dịch vụ công. Cơ quan đơn vị sự nghiệp công lập gồm có: Cơ quan đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự, tài chính; và Cơ quan đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự, tài chính [18].
- Đối với thời gian làm việc của viên chức được xác định ngay từ khi được tuyển dụng, hợp đồng làm việc có hiệu lực cho tới khi đủ tuổi nghỉ hưu hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc theo đúng Luật Lao động quy định. - Liên quan đến chế độ làm việc thì viên chức cũng như các đối tượng người lao động khác sẽ được hưởng chế độ làm việc về quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động căn cứ hợp đồng lao động. Tuy nhiên, đối với đối tượng là viên chức thì 11 sẽ căn cứ thêm vào Luật Viên chức – năm 2010. Qũy lương sẽ được chi trả dựa theo quy định của pháp luật và quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị sự nghiệp công lập.
Ngoài ra Viên chức còn được có quyền nghỉ ngơi và hoạt động kinh doanh và làm việc ngoài giờ được quy định cụ thể tại Điều 13 và Điều 14 của Luật Viên chức năm 2010. Khái niệm nhân lực ngành y tế Có nhiều định nghĩa khi nói về nhân lực nói chung hay nhân lực ngành y tế nói riêng. Thông thường, khi nhắc đến nguồn nhân lực thì người ta thường định nghĩa theo quan điểm của Tổ chức Liên Hiệp Quốc, theo tổ chức này thì nhân lực là tập hợp gồm những người đang làm việc và những người đang trong độ tuổi và có khả năng lao động. Còn với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta thì “Nguồn lực con người là nguồn lực quý báu nhất, nó đóng vai trò quyết định đặc biệt đối với sự phát triển của đất nước ta khi điều kiện vốn tài chính và nguồn lực vật chất đang còn hạn hẹp”; yêu cầu về nguồn nhân lực cần xây dựng phải là đội ngũ bao gồm những “người lao động có trí tuệ cao, thành thạo tay nghề, có phẩm chất tốt đẹp, được bồi dưỡng, đào tạo và phát triển trên cơ sở kết hợp giữa nền giáo dục tiên tiến với nền khoa học hiện đại”.
Tuy nhiên, dù hiểu theo khía cạnh nào đi nữa thì có thể nhận định chung là nhân lực là lực lượng lao động chính, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc [13]. Khi nhắc đến nguồn nhân lực y tế thì Tổ chức Y tế thế giới WHO đã đưa ra một định nghĩa hết sức cụ thể, trong đó khẳng định nhân lực ngành y tế (bao gồm bác sĩ, y tá, nữ hộ sinh, dược sĩ, …) là thành phần vô cùng quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ y tế có chất lượng, hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân và đạt được các Mục tiêu Phát triển bền vững liên quan đến sức khỏe. Đội ngũ nhân lực y tế đa chuyên ngành, có chuyên môn tốt có khả năng cung cấp các dịch vụ y tế chất lượng cao và lấy người dân làm trung tâm là vô cùng cần thiết để đáp ứng nhu cầu y tế đang thay đổi tại Việt Nam, đặc biệt là sự gia tăng của các bệnh không lây nhiễm và già hóa dân số. Cũng theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới WHO, trong công cuộc cải cách hệ thống y tế tại nước ta, một trong những nhiệm 12 vụ trọng tâm là tập trung xây dựng nhân lực ngành y tế có trình độ, đặc biệt ở tuyến cơ sở, có cơ chế chính sách đảm bảo chất lượng chuyên môn y tế và chất lượng đào tạo tại các trường đại học y dược trong cả nước [13].
Khái niệm viên chức y tế Viên chức y tế là đội ngũ viên chức làm việc và công tác tại các đơn vị sự nghiệp thuộc khối ngành y tế. Viên chức y tế cũng có đầy đủ những đặc điểm của một viên chức được trình bày ở nội dung trên. Tuy vậy xuất phát từ tính chất đặc thù của công việc và ngành nghề, nên đội ngũ các viên chức ngành y tế có thành phần khá phức tạp và việc quy định về tiêu chuẩn chức danh, mã số cũng có tính đặc thù. Có nhiều quan niệm khác nhau về định nghĩa viên chức YT.
Trong đó, có hai cách quan niệm được đa số đồng tình trong cách xác định nội hàm của viên chức YT. Theo quan niệm 1, viên chức ngành YT gồm có những người làm về công tác chuyên môn y tế và những người làm các hoạt động khác trong cơ quan đơn vị sự nghiệp công lập YT. Đây có thể thấy là một quan niệm tương đối rộng khi định nghĩa về viên chức y tế. Theo quan niệm 2, chỉ những nhân viên h/đ chuyên môn ngành YT công lập (thực hiện những kỹ năng thuộc ngành nghề YT) thì được gọi là viên chức YT (hay còn gọi là những nguồn nhân lực được đào tạo từ các trường trong Khối ngành Y Dược); còn những nhân viên làm các công tác khác thì gọi là viên chức hành chính ở lĩnh vực YT.
Quan niệm 2 sử dụng trình độ chuyên môn nghiệp vụ để phân loại viên chức YT nhằm có những chế độ, chính sách khác nhau giữa hai bộ phận này. Trong phạm vi luận văn, để thống nhất với các báo cáo, số liệu của địa phương, tác giả đã sử dụng theo quan điểm thứ hai về các nhận diện và khái niệm của Viên chức Y tế. Do đó, Viên chức YT có thể được hiểu là những viên chức làm việc trong hệ thống các cơ sở YT công lập, tham gia vào các h/đ chuyên môn nghiệp vụ của 13 ngành YT, chứ không phải là những người làm công tác quản lý, bộ phận hành chính hoặc những nhà nghiên cứu [18]. Về quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cho các chức danh nghề nghiệp bác sĩ, bác sĩ y học dự phòng, y sĩ, nghề Dược, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y được căn cứ trên Thông tư liên tịch Số: 10/2015/TTLT-BYT-BNV ban hành ngày 27 tháng 5 năm 2015 giữa Bộ Y tế và Bộ Nội vụ.
Theo đó, cụ thể viên chức y tế bao gồm các chức danh sau: 1. Nhóm chức danh bác sĩ, bao gồm: a) Bác sĩ cao cấp (hạng I) Mã số: V.01 b) Bác sĩ chính (hạng II) Mã số: V. Nhóm chức danh bác sĩ y học dự phòng, bao gồm: a) Bác sĩ y học dự phòng cao cấp (hạng I) Mã số: V.