Tổng quan nghiên cứu
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế theo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, ngành tài chính - ngân hàng đóng vai trò huyết mạch của nền kinh tế quốc dân. Để thực hiện tốt sứ mệnh đó, nguồn nhân lực ngân hàng đòi hỏi không chỉ trình độ chuyên môn vững vàng mà còn phải tinh thông ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh chuyên ngành tài chính - ngân hàng theo tinh thần Quyết định số 42/2003/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, với bề dày đào tạo hơn 26.000 cán bộ bậc đại học, cao đẳng và hơn 70 thạc sĩ, tiến sĩ, đang đứng trước áp lực cấp thiết phải đổi mới toàn diện công tác quản trị đào tạo ngoại ngữ.
Thực tiễn đào tạo môn tiếng Anh tại nhà trường đang bộc lộ nhiều bất cập nghiêm trọng về quy mô lớp học từ 70 đến 140 sinh viên, tổng thời lượng 240 tiết chưa đáp ứng yêu cầu và cơ sở vật chất phòng học ngoại ngữ còn nghèo nàn. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là khảo sát, phân tích toàn diện thực trạng quản lý và tổ chức dạy học tiếng Anh tại Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp quản lý đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng chuẩn đầu ra cho thị trường lao động.
Phạm vi không gian nghiên cứu được thực hiện tại Bộ môn Ngoại ngữ thuộc Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi thời gian nghiên cứu kéo dài từ tháng 8/2003 đến tháng 10/2004, khảo sát trực tiếp 400 sinh viên cùng toàn bộ 6 giảng viên tiếng Anh cơ hữu, đồng thời đánh giá đối chiếu kết quả của 256 bài thi đầu vào và 223 bài thi đầu ra. Ý nghĩa của đề tài thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học thực chứng để tái cấu trúc chương trình đào tạo, giải quyết bài toán chênh lệch 26,95% tỷ lệ sinh viên yếu kém đầu vào và thiết lập chuẩn mực quản lý đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành hiệu quả.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý giáo dục đại học và lý thuyết tiếp cận giao tiếp trong giảng dạy ngôn ngữ (Communicative Language Teaching - CLT). Theo khoa học quản trị, quản lý giáo dục là sự tác động có định hướng thông qua 4 chức năng cốt lõi: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra nhằm tối ưu hóa các nguồn lực sư phạm. Về mặt sư phạm ngôn ngữ, nghiên cứu vận dụng thuyết giao tiếp hiện đại, xem ngôn ngữ là phương tiện hành động xã hội thay vì hệ thống cấu trúc ngữ pháp trừu tượng thuần túy.
Hệ thống khái niệm nòng cốt trong đề tài bao gồm:
- Quản lý chất lượng giáo dục đại học: Hoạt động giám sát, bảo đảm chuẩn đầu ra theo nhu cầu thị trường lao động với các tiêu chí khắt khe về kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và phẩm chất nhân cách.
- Quá trình dạy học đại học: Hoạt động phối hợp thống nhất, biện chứng giữa chủ thể dạy và chủ thể học nhằm làm chủ hệ thống tri thức chuyên ngành.
- Tiếng Anh chuyên ngành tài chính - ngân hàng: Hệ thống ngôn ngữ tích hợp 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết gắn chặt với các nghiệp vụ thanh toán quốc tế, tín dụng và thị trường chứng khoán.
- Chuẩn hóa môi trường sư phạm ngoại ngữ: Yêu cầu định mức không gian tối thiểu 4 mét khối trên một sinh viên cùng hạ tầng kỹ thuật nghe nhìn đa phương tiện.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng quy trình định lượng kết hợp định tính chặt chẽ. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập từ 400 phiếu trưng cầu ý kiến sinh viên (gồm 78 sinh viên nam chiếm 19,5% và 322 sinh viên nữ chiếm 80,5%; 89 sinh viên khu vực đô thị chiếm 22,25% và 331 sinh viên đến từ các tỉnh chiếm 82,75%) và 6 phiếu trưng cầu chuyên sâu dành cho 100% giảng viên Bộ môn Ngoại ngữ. Đồng thời, phương pháp nghiên cứu sản phẩm đào tạo được thực hiện thông qua việc chấm và thống kê 256 bài thi khảo sát đầu vào cùng 223 kết quả thi đầu ra kết thúc học phần.
Phương pháp toán thống kê được hỗ trợ bởi phần mềm chuyên dụng SPSS for Windows nhằm phân tích tần số, kiểm định tỷ lệ phần trăm và xác định tương quan giữa các biến số tâm lý, môi trường sư phạm với hiệu quả học tập. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm loại bỏ các đánh giá cảm tính, lượng hóa chính xác mức độ ảnh hưởng của quy mô lớp học và thời lượng đào tạo đến chuẩn đầu ra.
Tiến trình nghiên cứu diễn ra theo 4 giai đoạn chuẩn mực:
- Tháng 8/2003: Hoàn thiện đề cương nghiên cứu và xây dựng cấu trúc bộ công cụ khảo sát.
- Tháng 9 đến tháng 10/2003: Phát phiếu thăm dò ý kiến 400 sinh viên, 6 giảng viên và khảo sát thực tế chương trình đào tạo các trường khối kinh tế.
- Tháng 4/2004: Làm sạch, mã hóa và xử lý tập dữ liệu trên phần mềm SPSS for Windows.
- Tháng 10/2004: Phân tích kết quả, viết báo cáo tổng luận và hoàn thiện luận văn thạc sĩ.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát thực chứng đã làm sáng tỏ 4 nhóm phát hiện cốt lõi về thực trạng đào tạo tiếng Anh tại nhà trường:
Thứ nhất, thời lượng đào tạo và quy mô lớp học đang tạo ra rào cản nghiêm trọng đối với việc rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ. Có tới 58,75% sinh viên và 100% giảng viên khẳng định tổng thời lượng 240 tiết hiện nay là quá ít so với định mức 270 tiết của Học viện Ngân hàng hay 1200 tiết của Đại học Ngoại thương Hà Nội. Đặc biệt, quy mô lớp học từ 70 đến 140 sinh viên khiến 74,00% sinh viên cùng 100% giảng viên đánh giá là cản trở lớn, trong đó 77,25% sinh viên và 100% giảng viên khẳng định hoàn toàn không thể rèn luyện kỹ năng nghe - nói cho từng cá nhân với sĩ số này. Có 45,00% người học và 66,67% người dạy kiến nghị quy mô lớp chuẩn phải từ 20 đến 30 sinh viên.
Thứ hai, sự phân hóa sâu sắc về trình độ đầu vào của sinh viên nhưng chưa được phân loại khi xếp lớp. Có 52,25% sinh viên và 66,67% giảng viên khẳng định trình độ tiếng Anh đầu vào hoàn toàn không đồng đều. Kết quả kiểm tra đầu vào của 256 sinh viên cho thấy nhóm đạt loại xuất sắc chỉ chiếm vỏn vẹn 0,39%, loại giỏi đạt 10,55%, loại khá đạt 27,34%, trong khi nhóm yếu và kém chiếm tới 26,95% (loại yếu 10,94% và loại kém 16,01%).
Thứ ba, sự chuyển biến chất lượng đầu ra còn phân hóa mạnh và chưa cải thiện triệt để nhóm yếu kém. Kết quả kiểm tra đầu ra của 223 sinh viên ghi nhận tỷ lệ xuất sắc, giỏi và khá tăng lên mức 46,64% (tăng 8,36% so với mức 38,28% đầu vào), nhưng nhóm yếu kém vẫn chiếm tới 22,42% (chỉ giảm khiêm tốn 4,53% so với mức 26,95% đầu vào). Nhóm học lực kém ở đầu vào hầu như không theo kịp chương trình do phải học chung một giáo trình đại trà.
Thứ tư, bất cập trong phân bổ lộ trình học tập và thiếu hụt trang thiết bị. Có tới 91,00% sinh viên và 100% giảng viên cho rằng việc học tiếng Anh chuyên ngành trước các môn nghiệp vụ ngân hàng gây khó khăn rất lớn trong tiếp thu; 96,00% sinh viên kiến nghị học song song hoặc sau môn chuyên ngành. Đồng thời, 94,50% sinh viên (49,75% đánh giá chưa đủ và 44,75% đánh giá quá thiếu thốn) cùng 100% giảng viên xác nhận cơ sở vật chất phòng học chưa đạt chuẩn tối thiểu.
Thảo luận kết quả
Dữ liệu khảo sát từ 14 bảng biểu thống kê SPSS và hệ thống biểu đồ đối sánh điểm số đã phản ánh sự đối lập rõ rệt giữa nhận thức và điều kiện thực thi. Biểu đồ 2.1 mô tả phân bố điểm đầu vào bị lệch mạnh về nhóm trung bình và yếu kém, trong khi Biểu đồ 2.2 thể hiện sự dịch chuyển hai cực ở đầu ra. Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ việc duy trì phương pháp ngữ pháp - dịch và độc thoại truyền thống trong môi trường lớp học đông đúc, thiếu các phòng thực hành nghe nhìn đa phương tiện.
Mặc dù 94,25% sinh viên nhận thức tiếng Anh là công cụ sống còn giúp nâng cao chuyên môn và mở ra cơ hội việc làm, nhưng có tới 20,50% sinh viên thừa nhận học tập mang tính đối phó thi cử và 63,50% có biểu hiện học tập cầm chừng do phương pháp kiểm tra đánh giá một lần vào cuối kỳ chưa tạo ra động lực phấn đấu thường xuyên. Việc so sánh đối chiếu với các mô hình đào tạo tiên tiến cho thấy, nếu không tái cấu trúc quản lý từ khâu phân lớp, tăng thời lượng lên trên 300 tiết và bố trí học song song với nghiệp vụ ngân hàng, nhà trường sẽ rất khó nâng tỷ lệ sinh viên đạt chuẩn giao tiếp thực tế.
Đề xuất và khuyến nghị
Để nâng cao thực chất chất lượng đào tạo ngoại ngữ tại Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, hệ thống 4 nhóm giải pháp quản lý mang tính đột phá cần được triển khai quyết liệt:
Thứ nhất, tái cơ cấu quy mô lớp học và phân luồng đào tạo theo năng lực đầu vào. Ban Giám hiệu cùng Phòng Đào tạo cần điều chỉnh ngay sĩ số các lớp học phần tiếng Anh từ mức 70-140 sinh viên hiện nay xuống quy mô chuẩn 20-30 sinh viên mỗi lớp trong lộ trình 12 tháng. Tổ chức kỳ thi đánh giá năng lực tiếng Anh bắt buộc ngay khi nhập trường để phân loại 26,95% sinh viên thuộc nhóm yếu kém vào các lớp bồi dưỡng bổ trợ 60-90 tiết trước khi tiếp cận chương trình chuyên ngành.
Thứ hai, điều chỉnh phân phối chương trình và tăng cường thời lượng đào tạo. Tăng tổng thời lượng môn tiếng Anh từ 240 tiết lên 300 đến 360 tiết, rải đều xuyên suốt 6 đến 8 học kỳ của khóa học thay vì dồn nén cục bộ vào học kỳ 2, 3 và 4. Thiết kế chương trình tiếng Anh chuyên ngành giảng dạy song song với các học phần nghiệp vụ như Thị trường chứng khoán, Tín dụng ngân hàng và Thanh toán quốc tế nhằm tạo tính cộng hưởng tri thức.
Thứ ba, hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật và không gian học tập. Phòng Quản trị thiết bị cần phê duyệt ngân sách đầu tư xây dựng 100% phòng thực hành nghe nhìn chuyên dụng, bảo đảm diện tích không gian đạt trên 4 mét khối trên một sinh viên. Trang bị đồng bộ hệ thống máy tính, máy chiếu, thiết bị âm thanh và phần mềm đa phương tiện trong giai đoạn 2004-2006 nhằm xóa bỏ hoàn toàn tình trạng dạy chay, học chay.
Thứ tư, đổi mới phương pháp giảng dạy và đa dạng hóa hình thức kiểm tra đánh giá. Bộ môn Ngoại ngữ cần chỉ đạo chuyển đổi dứt điểm từ phương pháp ngữ pháp - phiên dịch sang đường hướng giao tiếp tích cực, lấy người học làm trung tâm. Thay thế hình thức thi duy nhất cuối kỳ bằng quy trình đánh giá liên tục nhiều lần trong suốt quá trình học, nâng tỷ trọng điểm kiểm tra quá trình lên 40-50% tổng điểm học phần.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:
Thứ nhất, Ban Giám hiệu và các nhà quản lý giáo dục tại các trường đại học khối kinh tế - tài chính. Luận văn cung cấp mô hình thực chứng cùng hệ thống số liệu chuẩn xác từ 400 mẫu khảo sát để ban lãnh đạo xây dựng đề án phân bổ ngân sách, tối ưu hóa quy mô lớp học 20-30 sinh viên và thiết lập chiến lược kiểm định chất lượng ngoại ngữ theo chuẩn quốc gia.
Thứ hai, Trưởng khoa, Tổ trưởng bộ môn và giảng viên tiếng Anh chuyên ngành. Tài liệu là cẩm nang hữu ích giúp đội ngũ giảng dạy thấu hiểu đặc điểm tâm lý của 80,5% sinh viên nữ và 82,75% sinh viên xuất thân từ các tỉnh, từ đó linh hoạt kết hợp phương pháp nghe nhìn, xử lý triệt để tình trạng chênh lệch trình độ đầu vào.
Thứ ba, các chuyên viên phát triển chương trình và khảo thí chất lượng. Nhóm chuyên viên có thể khai thác các bảng đối sánh phân phối thời lượng 240 tiết và quy trình xây dựng bài thi đánh giá liên tục nhằm hoàn thiện khung chương trình đào tạo tích hợp giữa tiếng Anh và nghiệp vụ ngân hàng.
Thứ tư, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý giáo dục hoặc Phương pháp giảng dạy tiếng Anh. Đề tài đóng vai trò nguồn tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình ứng dụng phần mềm SPSS trong nghiên cứu giáo dục thực chứng, phân tích tương quan giữa các yếu tố quản trị sư phạm với chuẩn đầu ra của 26.000 cử nhân kinh tế.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao quy mô lớp học từ 20 đến 30 sinh viên lại mang tính quyết định đối với chất lượng dạy học ngoại ngữ?
Quy mô lớp học nhỏ giúp giảng viên bao quát và trực tiếp sửa lỗi phát âm, ngữ điệu cho từng sinh viên. Khảo sát thực tế cho thấy lớp học đông từ 70 đến 140 sinh viên khiến 77,25% sinh viên và 100% giảng viên thừa nhận hoàn toàn không thể triển khai các hoạt động luyện nghe - nói tương tác nhóm hiệu quả.
Thời lượng 240 tiết tiếng Anh chuyên ngành tại trường có đáp ứng được mục tiêu đào tạo không?
Thời lượng 240 tiết hiện nay là chưa đủ để hình thành kỹ năng giao tiếp chuyên sâu. Có tới 58,75% người học và 100% giảng viên đánh giá quỹ thời gian này quá ít ỏi khi so sánh với định mức 270 tiết của Học viện Ngân hàng hoặc 1200 tiết của các đơn vị đào tạo thương mại chuyên sâu.
Vì sao cần xếp lớp tiếng Anh theo trình độ đầu vào thay vì phân chia theo khoa hành chính?
Khoảng 52,25% sinh viên và 66,67% giảng viên nhận định năng lực đầu vào hoàn toàn không đồng đều, trong đó nhóm yếu kém chiếm 26,95%. Việc phân lớp theo năng lực giúp thiết kế giáo trình thích ứng riêng biệt, ngăn chặn tình trạng người học mất căn bản bị tụt hậu so với chương trình đại trà.
Việc học tiếng Anh chuyên ngành song song với môn nghiệp vụ mang lại lợi ích gì?
Có tới 96,00% sinh viên và 100% giảng viên đồng thuận việc học song song giúp người học liên hệ trực tiếp thuật ngữ tiếng Anh với các khái niệm tài chính đang học trên giảng đường, từ đó nâng cao khả năng đọc hiểu tài liệu chuyên khảo quốc tế mà không bị quá tải kiến thức.
Phương pháp kiểm tra đánh giá nhiều lần khắc phục điểm yếu của thi tập trung cuối kỳ như thế nào?
Đánh giá quá trình liên tục kích thích tinh thần tự học hàng tuần, xóa bỏ tâm lý học đối phó thi cử vốn chiếm 20,50% phản hồi của sinh viên. Phương pháp này cung cấp phản hồi kịp thời cho giảng viên để điều chỉnh bài giảng, từ đó giảm tỷ lệ 22,42% sinh viên yếu kém khi tốt nghiệp.
Kết luận
- Đề tài đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận quản lý giáo dục đại học và khảo sát thực chứng trên mẫu 400 sinh viên cùng 6 giảng viên tại Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh.
- Số liệu kiểm tra thực tế đã chỉ ra sự chênh lệch lớn khi nhóm yếu kém đầu vào chiếm 26,95% và đầu ra vẫn còn tồn đọng 22,42% do tác động từ sĩ số quá đông 70-140 sinh viên/lớp.
- Luận văn đóng góp hệ thống giải pháp đồng bộ: chia nhỏ lớp học về mức 20-30 sinh viên, tăng thời lượng từ 240 lên trên 300 tiết và phân bổ học phần tiếng Anh song song với các môn nghiệp vụ ngân hàng.
- Lộ trình thực thi đề xuất trong giai đoạn tiếp theo cần tập trung đầu tư 100% phòng lab nghe nhìn đạt chuẩn không gian 4 mét khối/sinh viên và chuyển đổi sang đánh giá quá trình liên tục.
- Ban Giám hiệu và các nhà quản trị giáo dục đại học cần sớm áp dụng các khuyến nghị từ công trình này để chuẩn hóa chương trình tiếng Anh chuyên ngành, nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu cho nguồn nhân lực ngành tài chính - ngân hàng.