Chương I: Tông quan vân đê nghiên cứu Chương 2: Chính sách dao tạo chuyên gia khu vực của Sam Sung Chương 3: Một vài đánh giá bước đầu về chính sách CHUONG 1: TONG QUAN VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. Cac khai niém 1. Chuyên gia Cụm từ chuyên gia khu vực được chuyên ngữ từ khái niệm X|9317} trong tiếng Hàn. Vì thế, để hiểu khái niệm chuyên gia khu vực trong bối cảnh chính sách của Samsung, trước hết, cần phải làm rõ các khái niệm: chuyên gia và khu vực.
Trong tiếng Việt, khái niệm chuyên gia tương đương với từ Expert trong tiếng Anh. Theo từ điển Cambridge, khái niệm expert dùng để chỉ một người có trình độ cao về tri thức hay kỹ năng liên quan đến một chủ đề hay một hoạt động cụ thé nao do (a person with a high level of knowledge or skill relating to a particular subject or activity) [16, tr.Từ điển American Heritage cũng cung cấp một định nghĩa tương tự về expert khi cho rằng chuyên gia là người có bằng cấp cao về kỹ năng hay tri thức trong một lĩnh vực cụ thé (A person with a high degree of skill in or knowledge of a certain subject. Theo từ điển Naver của Han quốc, chuyên gia có nghĩa là một người có kiến thức và kinh nghiệm đáng kể trong một lĩnh vực bang cách nghiên cứu hoặc làm việc trong lĩnh vực đó. Một người có thể nghiên cứu sâu về một lĩnh vực dựa trên nhiều kiến thức và kinh nghiệm dé tao ra két qua va thanh tuu.
Ngoài ra, các chuyên gia là có thé xác minh và giải thích kiến thức với các sự kiện và tải liệu khách quan. Còn theo Bách khoa toàn thu mở bang tiếng Việt, Chuyên gia là khái niệm chỉ những người được đảo tạo theo hướng chuyên sâu có kinh nghiệm thực hành công việc và có kỹ năng thực tiễn, lý luận chuyên sâu về một lĩnh vực cu thê hoặc có hiệu biệt vượt trội so với mặt băng kiên thức chung. Các chuyên gia có thé tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua việc cho ý kiến, tham vấn) vào một công việc hay một lĩnh vực cụ thể. Một trong những đặc điểm quan trọng để phân biệt chuyên gia với các chuyên viên, đồng nghiệp thông thường là: - Kỹ năng nghề nghiệp vượt trội đồng nghiệp.
- Luận cho kết quả chính xác trong công việc. - Tinh thông nghiệp vụ, am tường về công việc dang làm. - Được tổ chức có thấm quyền thừa nhận hoặc công nhận băng văn bản. - Có khả năng tư vấn thông thạo trên một vài lĩnh vực cụ thé [28, tr.
Khu vực Khái niệm khu vực trong tiếng Việt tương đương với từ Area trong tiếng Anh. Theo từ điển Cambridge, area nghĩa là một phan cụ thé của một địa điểm, một miền đất hay đất nước (a particular part of a place, piece of land or country) [ L7, tr. l] Theo từ điển American Heritage, khu vực là một phần không gian của một bề mặt được phân chia đại khái (A roughly bounded part of the space on a surface) [13, tr. Theo từ điền Naver của Hàn Quốc, khu vực là một vùng đất có ranh giới rõ ràng ( 44ä†7I| PSE! o|— t39|9| #) [3 1, tr.
Trong tiếng Việt, khu vực hay vùng thường chỉ ý niệm địa lý. Theo từ điển Bách khoa thư tiếng Việt, các khu vực được phân chia bởi các đặc tính vật lý (Dia ly tự nhiên), các đặc tinh tác động cua con người (Dia lý nhân văn) và các tương tác con người và môi trường (Dia lý tích hợp). Cac vùng địa lý hay phân vùng được mô tả chủ yếu theo các định nghĩa tương đối, và đôi khi là các ranh giới tạm thời, trừ trong địa lý nhân văn, nơi các khu vực tài phán như biên giới quốc gia được định nghĩa rõ rang theo luật [15, tr.1] Trong quan niệm của Samsung, chuyên gia khu vực là người có kiến thức sâu sắc về một khu vực trên thé giới, đông thời, cũng là người có những kỹ năng cân thiết để giải quyết những công việc liên quan đến khu vực đó. Các khu vực này là những thị trường truyền thống hay thị trường tiềm năng của tập đoàn Samsung, ví dụ: Khu vực Châu Âu, Khu vực Bắc Mỹ, Khu vực Nam Mỹ, Khu vực Trung Quốc, Khu vực Ấn độ, Khu vực Đông Nam Á.
Các chuyên gia khu vực của Samsung ở Việt Nam là một bộ phận của nhóm chuyên gia phụ trách khu vực Đông Nam Á - bên cạnh các bộ phận ở Singapore, Phillipin, Indonesia, Miến Điện, Thái Lan. Mô hình phân tích PEST Mô hình PEST hay PEST analysis là tên viết tắt của Political, Economic, Social, Technological là phương pháp quản lý được các công ty hay tập đoàn sử dụng rộng rãi nhằm phục vụ mục đích kinh doanh. Chính xác hơn, người ta dùng mô hình này đề nghiên cứu, phân tích các nhân tố vĩ mô ở một thị trường nào đó trước khi đưa ra một chính sách kinh doanh thích hợp - bao gồm : các yếu tố chính trị, luật pháp (political) ; các yếu tố kinh tế (Economic); văn hóa xã hội (Social) và công nghệ (Technological). Day là 4 yếu tố tác động trực tiếp đến nền kinh tế nói chung và đến từng doanh nghiệp nói riêng.
Do đó, các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu và phần tích chúng để đưa ra được những chiến lược, chính sách phù hợp với sự phát triển của doanh nghiệp. Cụ thé như sau: Chính trị luật pháp : Day là yếu tỗ có ảnh hưởng bao trùm tới tat cả các ngành kinh doanh trên một khu vực lãnh thổ. Thê chế của một quốc gia có thê thu hút doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư, có thể hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước hình thành, phát triển và vươn cao. Tuy nhiên, thể chế lại cũng có thê phá hủy các doanh nghiệp trong nước và làm nản lòng giới đầu tư nước ngoài.
Ngoài ra, sự bat 6n hay ồn định của một nên chính tri cũng tác động rất lớn đến sự phát triển hay suy thoái của nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng. Tóm lại, thể chế chính trị là yếu tố quyết định sự sống còn của các doanh nghiệp. Người ta thường phân tích yếu tố thê chế chính trị qua các khía cạnh sau: +) Sự bình ổn: Phương pháp này đánh giá sự bình ổn trong các yếu tô xung đột chính trị, ngoại giao của thể chế luật pháp. Thể chế nào có sự bình 6n cao sẽ có thê tạo điều kiện tốt cho hoạt động kinh doanh.
Ngược lại, các thế chế không ổn định sẽ tác động tiêu cực tới hoạt động kinh doanh trên lãnh thé của nó. +) Chính sách thuế : chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu, các thuế tiêu thụ, thuế thu nhập.sẽ ảnh hưởng tới doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp. +) Các đạo luật liên quan: luật đầu tư, luật doanh nghiệp, luật lao đồng, luật chống độc quyền, chống bán phá giá. +) Chính sách : các chính sách của nhà nước sẽ ảnh hưởng rất lớn tới doanh nghiệp.
Chúng có thể tạo ra lợi nhuận hoặc thách thức với doanh nghiệp. Có thé kế đến các chính sách thương mại, chính sách phát triển nganh, phát triển kinh tế, thuế các chính sách điều tiết cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng. Kinh tế : Thông thường, các doanh nghiệp sẽ dựa trên các yếu tố kinh tế sau dé phân tích : +) Tinh trạng phát triển của nền kinh tế : bat cứ nền kinh tế nào cũng có chu kỳ. Trong mỗi giai đoạn nhất định của chu kỳ nền kinh tế, doanh nghiệp sẽ có những quyết định phù hợp cho riêng mình.
+) Các yếu tố tác động đến nền kinh tế. Ví dụ: lãi suất, lạm phát. 10 +) Các chính sách kinh tế của chính phủ : Ví dụ: luật tiền lương cơ bản, các chiến lược phát triển kinh tế của chính phủ, các chính sách ưu đãi cho các ngành : giảm thuế. +) Triển vọng kinh tế trong tương lai : Ví dụ : tốc độ tăng trưởng, mức gia tăng, tỉ suất GDP trên vốn đầu tư.
Văn hóa xã hội: Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hóa và các yêu t6 xã hội đặc trưng. Và những yếu tố này là đặc điểm của người tiêu dùng tại các khu vực đó. Những giá trị văn hóa là những giá trị làm nên nên tảng cho một xã hội, có thể vun đắp cho xã hội đó ton tại va phát triển. Chính vì thế, các yếu tố văn hóa thường được coi trọng và bao tồn, đặc biệt là văn hóa tỉnh thân.
Là một tập đoàn có vi thế hàng đầu trên toàn cầu, trước và sau khi quyết định đầu tư vào Việt Nam, Samsung đã sử dụng mô hình PEST dé phan tích những thuận lợi, thách thức cua thị trường Việt Nam, cũng như những yêu cầu đặt ra nhằm tiếp cận và chiếm lĩnh thị trường này. Mô hình PEST đã giúp Samsung nhận ra một vấn đề rất quan trọng: muốn dành ưu thế tuyệt đối trên thị trường Việt Nam, phải có những con người hiểu tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam. Như thé, có thé xem chương trình chuyên gia khu vực là sản phâm của cách tiếp cận theo mô hình PEST. Lý thuyết twong đối văn hoá Tương đối văn hóa (Relativism) là một lý thuyết nổi tiếng trong lĩnh vực nhân học (Anthropology) và có thể được sử dụng để giải thích lý do Samsung áp dụng chương trình chuyên gia khu vực ở Việt Nam.
Lý thuyết này do các nhà nhân học Mỹ đề xuất vào đầu thế kỷ 20, trong đó, người có công lớn nhất là Frank Boas. Lý thuyết này là một nỗ lực để phê phán các lý thuyết tiến hóa luận (Evolutionism) và truyền bá luận (Diffusionism) phổ biến ở phương Tây vảo cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20. Tiến hóa luận cho rằng các 11 xã hội loài người tiễn hóa theo trình tự từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ lạc hậu đến văn minh, từ săn bắn và hái lượm đến các xã hội trồng trọt và công nghiệp. Mặt khác, theo các nhà tiến hóa luận, văn minh phương Tây là hình mẫu và cũng là hình thái phát triển cao nhất mà con người có thé vươn tới.
Do đó, mô hình phát triển của phương Tây cần được nhân rộng ra toàn thé giới và các xã hội ngoài châu Âu không có con đường nào khác ngoài việc đi theo mô hình của phương Tây. Trong khi đó, các nhà truyền bá luận cho răng: các nền văn hóa trên thế giới thực chất bắt nguồn từ một vài nền văn minh gốc, sau đó mới dần lan tỏa ra các khu vực khác. Rõ ràng, truyền bá luận ít nhiều chịu ảnh hưởng của tiến hóa luận.