Luận Văn Thạc Sĩ Về Lãnh Đạo Thực Hiện Chính Sách Dân Tộc Tại Huyện Võ Nhai (2000-2010)

Luận văn thạc sĩ phân tích vai trò của đảng bộ huyện Võ Nhai trong thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 2000-2010 tại Thái Nguyên.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

137
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN VÕ NHAI LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC GIAI ĐOẠN 2000 - 2005

1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam

1.2. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam

1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc

1.4. Chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ huyện Võ Nhai giai đoạn 2000 – 2005

1.4.1. Chủ trương của Đảng bộ huyện Võ Nhai

1.4.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ huyện Võ Nhai

1.4.2.1. Phát triển kinh tế, nâng cao mức sống đồng bào các dân tộc
1.4.2.2. Thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo và chương trình 135 của Chính phủ
1.4.2.3. Quan tâm đầu tư Giáo dục – Đào tạo, y tế, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
1.4.2.4. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN VÕ NHAI LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC GIAI ĐOẠN 2005 - 2010

2.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên và phương hướng nhiệm vụ của Đảng bộ huyện Võ Nhai về thực hiện chính sách dân tộc

2.1.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên

2.1.2. Phương hướng nhiệm vụ của Đảng bộ huyện Võ Nhai

2.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ huyện Võ Nhai

2.2.1. Phát triển kinh tế nâng cao mức sống đồng bào dân tộc

2.2.2. Thực hiện chương trình 135 giai đoạn II (2006-2010)

2.2.3. Thực hiện chương trình 134 của Chính phủ

2.2.4. Thực hiện một số chương trình của Chính phủ

2.2.5. Về xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số

2.2.6. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Một số kinh nghiệm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về Chính Sách Dân Tộc Tại Huyện Võ Nhai 2000 2010

Chính sách dân tộc tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, từ năm 2000 đến 2010 đã được thực hiện với nhiều chủ trương và biện pháp nhằm nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số. Huyện Võ Nhai, với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đặc thù, đã trở thành một trong những địa bàn quan trọng trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Các chính sách này không chỉ nhằm phát triển kinh tế mà còn bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

1.1. Đặc điểm tự nhiên và xã hội của huyện Võ Nhai

Huyện Võ Nhai nằm ở vùng cao, có địa hình đồi núi, khí hậu ôn hòa. Đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và du lịch. Tuy nhiên, huyện cũng đối mặt với nhiều thách thức như cơ sở hạ tầng còn yếu kém và đời sống của người dân còn nhiều khó khăn.

1.2. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tôn trọng quyền lợi của các dân tộc thiểu số. Các chính sách này bao gồm việc phát triển kinh tế, giáo dục, y tế và bảo tồn văn hóa. Đặc biệt, giai đoạn 2000-2010, nhiều chương trình hỗ trợ đã được triển khai nhằm cải thiện đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số.

II. Vấn đề và Thách thức trong Thực hiện Chính Sách Dân Tộc

Việc thực hiện chính sách dân tộc tại huyện Võ Nhai trong giai đoạn 2000-2010 gặp phải nhiều thách thức. Những khó khăn này không chỉ đến từ điều kiện tự nhiên mà còn từ nhận thức và năng lực của các cấp chính quyền địa phương. Sự thiếu hụt về nguồn lực và cơ sở hạ tầng cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc thực hiện chính sách chưa đạt hiệu quả như mong muốn.

2.1. Những khó khăn trong việc triển khai chính sách

Nhiều chính sách chưa được triển khai đồng bộ, dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn lực và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng. Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả của các chương trình phát triển kinh tế và xã hội tại địa phương.

2.2. Nhận thức của cộng đồng về chính sách dân tộc

Nhận thức của một số bộ phận người dân về chính sách dân tộc còn hạn chế. Điều này dẫn đến việc họ không tham gia tích cực vào các chương trình phát triển, ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chính sách.

III. Phương pháp và Giải pháp Chính trong Thực hiện Chính Sách Dân Tộc

Để khắc phục những thách thức trong việc thực hiện chính sách dân tộc, huyện Võ Nhai đã áp dụng nhiều phương pháp và giải pháp khác nhau. Các giải pháp này không chỉ tập trung vào phát triển kinh tế mà còn chú trọng đến việc nâng cao nhận thức của cộng đồng và bảo tồn văn hóa dân tộc.

3.1. Đẩy mạnh phát triển kinh tế địa phương

Các chương trình phát triển kinh tế được triển khai nhằm nâng cao mức sống cho đồng bào dân tộc thiểu số. Việc phát triển nông nghiệp, du lịch và các ngành nghề truyền thống đã góp phần cải thiện đời sống người dân.

3.2. Tăng cường giáo dục và đào tạo

Giáo dục và đào tạo được xem là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao trình độ dân trí. Các chương trình đào tạo nghề và hỗ trợ học sinh, sinh viên đã được triển khai nhằm tạo điều kiện cho thế hệ trẻ phát triển.

IV. Ứng dụng Thực tiễn và Kết quả Nghiên cứu

Kết quả thực hiện chính sách dân tộc tại huyện Võ Nhai trong giai đoạn 2000-2010 đã đạt được một số thành tựu nhất định. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết để nâng cao hiệu quả của các chính sách này. Việc đánh giá kết quả thực hiện chính sách sẽ giúp rút ra bài học kinh nghiệm cho các giai đoạn tiếp theo.

4.1. Thành tựu đạt được trong thực hiện chính sách

Nhiều chương trình phát triển đã được triển khai thành công, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số. Sự cải thiện về cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội cũng đã được ghi nhận.

4.2. Những hạn chế và bài học kinh nghiệm

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trong việc thực hiện chính sách. Việc rút ra bài học kinh nghiệm từ những hạn chế này sẽ giúp cải thiện hiệu quả thực hiện chính sách trong tương lai.

V. Kết luận và Tương lai của Chính Sách Dân Tộc Tại Võ Nhai

Chính sách dân tộc tại huyện Võ Nhai trong giai đoạn 2000-2010 đã có những bước tiến đáng kể, nhưng vẫn cần tiếp tục cải thiện để đáp ứng nhu cầu phát triển của đồng bào dân tộc thiểu số. Tương lai của chính sách này phụ thuộc vào sự quyết tâm của các cấp chính quyền và sự tham gia tích cực của cộng đồng.

5.1. Định hướng phát triển chính sách dân tộc trong tương lai

Định hướng phát triển chính sách dân tộc trong tương lai cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo tồn văn hóa dân tộc. Các chương trình phát triển cần được thiết kế phù hợp với đặc điểm của từng dân tộc.

5.2. Vai trò của cộng đồng trong thực hiện chính sách

Cộng đồng cần được khuyến khích tham gia vào quá trình thực hiện chính sách dân tộc. Sự tham gia của người dân sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của các chương trình phát triển và bảo tồn văn hóa.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ huyện võ nhai thái nguyên lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2000 đến năm 2010

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Đảng bộ huyện Võ Nhai lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 2000 - 2005; Chương 2: Đảng bộ huyện Võ Nhai lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 2005 - 2010; Chương 3: Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN VÕ NHAI LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC GIAI ĐOẠN 2000 - 2005 1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Võ Nhai và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam 1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 1.1 Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý: Võ Nhai là một huyện vùng cao nằm về phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên, nằm trong toạ độ 21036’ - 21056’ độ vĩ Bắc và 105045’ - 106017’ độ kinh Đông. + Phía Đông giáp huyện Bắc Sơn (Lạng Sơn) + Phía Tây giáp huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương (Thái Nguyên) + Phía Nam giáp huyện Đồng Hỷ (Thái Nguyên) và huyện Yên Thế (Bắc Giang) + Phía Bắc giáp huyện Na Rì (Bắc Kạn) Huyện lỵ đặt tại Thị trấn Đình Cả cách thủ đô Hà Nội theo quốc lộ 3 và quốc lộ 1B là 120km, cách thành phố Thái Nguyên 37km và cách thị trấn Đồng Đăng – Lạng Sơn 80km. Với vị trí địa lý như vậy, Võ Nhai có thế mạnh để trở thành một huyện trung tâm vùng cao Việt Bắc. Đặc biệt, lợi thế trong giao lưu hàng hoá, du lịch sẽ là đòn bẩy đẩy nhanh sản xuất, phát triển kinh tế và nâng cao đồi sống của đồng bào các dân tộc trong huyện.

Địa hình: Nằm ở vị trí tiếp giáp của 2 dãy núi cao: dãy Ngân Sơn chạy từ Bắc Kạn theo hướng Đông Bắc – Tây Nam đến Võ Nhai và dãy Bắc Sơn chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, huyện Võ Nhai có địa hình khá phức tạp. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Địa hình chủ yếu là vùng núi dốc và núi đá vôi (chiếm 92%), những vùng đất bằng phẳng, tiện cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ, tập trung chủ yếu dọc theo các khe suối, các triền sông và các thung lũng ở vùng núi đá vôi. Toàn huyện có độ cao bình quân từ 100m đến 800m so với mặt biển. Đất nông nghiệp phân bố ở độ cao bình quân từ 100 đến 450m.

Tóm lại, địa hình của huyệt rất đa dạng, phức tạp cho phép phát triển một nền nông lâm nghiệp đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, đây cũng là điều kiện bất lợi cho việc phát triển cơ sở hạ tầng như giao thông, thuỷ lợi, và sự giao lưu hàng hoá trong và ngoài huyện. Khí hậu: Khí hậu của huyện Võ Nhai mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi Bắc bộ chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 4 – 10, mùa khô từ tháng 11 – 3 năm sau.

Võ Nhai nằm trong vùng lạnh của tỉnh Thái Nguyên. Phía Đông Bắc thuộc vùng lạnh nhất của tỉnh, phía Tây Nam ở mức trung bình. Nhiệt độ trung bình năm là 22,40C. Tháng nóng nhất là tháng 7, có nhiệt độ trung bình 27,80C.

Tháng lạnh nhất là tháng 1, nhiệt độ trung bình 14,90C. Có địa hình nằm gọn giữa hai dãy núi cao, dãy núi đá vôi cao phía Bắc và dãy núi sa phiến thạch ở phía Nam tạo nên khí hậu ẩm ướt, ít mưa, ít chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc có thể thích hợp trồng cây lâu năm như vải, xoài… Huyện chịu ảnh hưởng của chế độ mưa vùng núi Bắc Bộ. Lượng mưa bình quân năm 1.941,5mm, thấp hơn so với các vùng khác của tỉnh Thái Nguyên (2050 – 2.500mm) và phân bố không đồng đều. Lượng mưa chủ yếu tập trung vào các tháng mùa mưa với 1.765mm, chiếm 41% tổng lượng mưa cả năm.

Tháng có mưa lớn nhất là tháng 8, tới 372,2mm. Mưa lớn và tập trung chủ yếu thường gây xói mòn, lũ lụt ảnh hưởng tới cây trồng, độ phì của 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đất và các công trình thuỷ lợi, đặc biệt với khu vực 3 và khu vực 1 có địa hình phức tạp độ dốc cao, bị chia cắt nhiều. Các tháng mùa khô có lượng mưa không đáng kể, lượng bốc hơi nước lại cao, gây nên tình trạng khô hạn nghiêm trọng cho cây trồng, nhất là với cây hàng năm. Độ ẩm bình quân của huyện dao động từ 80 đến 87%.

Các tháng mùa khô, nhất là các tháng cuối năm 11, 12, độ ẩm thấp gây khó khăn cho việc phát triển cây vụ đông muộn, nhưng cũng tạo điều kiện cho thu hoạch và bảo quản nông sản trong thời kỳ này. Nguồn nƣớc: Võ Nhai là huyện miền núi, có địa hình bị chia cắt nhiều bởi các dãy núi đá và núi đất nên nguồn nước khá phong phú, nhưng phân bố không đồng đều. Ngoài nguồn nước mặt từ những dòng sông suối còn có các nguồn nước ngầm từ các hang động trong núi đã vôi, hiện đã và đang sử dụng vào sản xuất và sinh hoạt. Trong huyện có hai hệ thống sông nhánh trực thuộc hệ thống sông Cầu và sông Thương, được phân bố ở hai vùng Bắc và Nam huyện.

- Hệ thống sông Nghinh Tường: Phân bố ở phía Bắc huyện là nhánh của Sông cầu bắt nguồn từ những dãy núi của vòng cung Bắc Sơn (Lạng Sơn), chạy qua các xã Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Thần Xa và đổ ra sông cầu. - Hệ thống sông Rong: Phân bố ở phía Nam huyện là nhánh của sông thương. Bắt nguồn từ xã Phú Thượng chảy qua Thị trấn Đình Cả, Tràng Xá, Dân Tiến, Bình Long và chảy qua tỉnh Bắc Giang. Trong những năm gần đây, do nạn chặt pháp rừng, khai thác rừng bất hợp pháp đã làm giảm nguồn sinh thuỷ dẫn đến cạn kiệt nguồn nước về mùa khô và gây lũ lụt vào mùa mưa làm phá huỷ công trình giao thông, thuỷ lợi và phá hoại sản xuất, làm ảnh hưởng 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến đời sống của nhân dân.

Biện pháp cấp bách là trồng và bảo vệ rừng tái sinh ở các vùng thượng nguồn để điều tiết nguồn nước phục vụ cho nhân dân. Đất: Theo kết quả phúc tra bổ xung chỉnh lý bản đồ tỷ lệ 1/50.000 theo phương pháp định lượng FA0/UNE do viện quy hoạch thiết kế và xây dựng, toàn huyện các nhóm đất chính như: Nhóm FS, đất Ferslit vàng nhạt phát triển trên phiến đá thạch sét. Nhóm Fq, đất Ferslit vàng nhạt phát triển trên đá sa thạch, quácrít. Nhóm Fđ, đất Ferslit vàng nhạt - đất bạc màu.

Đất phù sa bồi tụ sông suối: Được phân bố rải rác dọc theo suối, có mầu vàng sẫm đen, thành phần cơ giới trung bình. Tình hình kinh tế xã hội Tình hình kinh tế * Tình hình sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản suất chính và chủ đạo trong nền kinh tế của toàn huyện. Trong kinh tế nông nghiệp thì ngành trồng trọt chiếm ưu thế, chăn nuôi chỉ là thứ yếu Trồng trọt: Được sự đầu tư của Nhà nước và công tác tuyên truyền ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tình hình sản xuất của huyện vẫn tương đối ổn định. Năng xuất và sản lượng của cây trồng không ngừng tăng lên.

Điều đó đã giảm bớt tình trạng nghèo đói, tăng thu nhập, cải thiện đời sống của nhân dân.1: Năng suất, sản lƣợng một số cây trồng chính của năm 2005 Bình quân / Diện tích Năng suất Sản lƣợng Cây trồng đầu ngƣời (ha) (tạ/ha) (Tấn) (kg/ngƣời) Lúa 4.919,01 46,42 (Nguồn: Niên giám thống kê huyện Võ Nhai 2005) 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 cho thấy, lúa là cây trồng chính của bà con trong huyện. Bên cạnh cây lúa cư dân còn trồng nhiều loại cây khác như: ngô, khoai lang, sắn…. Với tình hình sản xuất như trên, lương thực bình quân trên đầu người hàng năm mới chỉ đạt khoảng 445kg/người/năm. Đây là mức bình quân lương thực đầu người hàng thăm vào loại thấp so với cả nước (bình quân cả nước là 455 kg/người/năm).

Chính vì vậy, Võ Nhai là huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao (41,64%) trong đó hộ nghèo người dân tộc thiểu số là 64,07%. Do vậy, tỷ lệ đói nghèo chính là vấn đề lớn đối với Đảng bộ huyện Võ Nhai. Chăn nuôi: Chăn nuôi chủ yếu là chăn nuôi hộ gia đình theo hình thức chăn dắt và để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như cày bừa, kéo xe. Còn một số hộ khác tiến hành chăn nuôi để cung cấp thịt ra thị trường.2: Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi năm 2005 STT Vật nuôi Đơn vị tính Số lƣợng Giá trị (Tr.

đồng) 1 Đàn trâu Con 1.843,00 3 Đàn lợn Con 31.446,68 4 Gia cầm Con 272.440,36 ( Nguồn: Niên giám thống kê huyện Võ Nhai năm 2005) Công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm của huyện thực hiện theo định kỳ vào tháng 03 và tháng 09 hàng năm. Theo đó, Phòng nông nghiệp huyện chỉ đạo các xã, xóm tiêm phòng dại cho chó, tiêm vacxin tụ huyết trùng, lở mồm long móng cho đàn trâu bò. Việc tiêm phòng cho đàn gia cầm phần lớn nhân dân tự tiêm. Công tác kiểm tra giết mổ gia súc, vận chyển gia súc được thực hiện thường xuyên nên hạn chế được dịch bệnh xảy ra hàng năm.

* Sản xuất lâm nghiệp. Diện tích đất lâm nghiệp là 54255,68ha chiếm 89,53% diện tích đất nông nghiệp bao gồm rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Hàng năm cung cấp một lượng lớn lâm sản để phục vụ cho nhu cầu xây dựng, chế 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biến cung cấp sản phẩm ra thị trường. Góp phần ổn định sản xuất và bảo vệ môi trường.

* Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm một tỷ trọng thấp. Trên địa bàn huyện tại xã La Hiên có Nhà máy xi măng với công suất 80 vạn tấn/ năm và có doanh nghiệp liên doanh nước khoáng AVA. Thủ công nghiệp trong huyện chỉ với những hàng hoá đơn giản như dụng cụ, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp, đồ may mặc, sản xuất đồ mặc đơn giản phục vụ gia đình. Do địa hình có bãi bồi ven sông và những thung lũng nhỏ thích hợp với trồng mía, cho nên đã hình thành một số cơ sở ép mía lò chưng cất đường.

Ngoài ra còn một số cơ sở chế biến sản phẩm từ thuốc lá, chè. Giá trị ngành thực hiện được khoảng 5,87 tỷ đồng, chiếm 6,5% nền kinh tế của huyện. Hiện nay ngành dịch vụ của huyện do khu vực quốc doanh và tư nhân đảm nhận trong đó dịch vụ tư nhân chiếm đa số.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ