Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ huyện thanh sơn phú thọ lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2007 đến năm 2014

Luận văn thạc sĩ phân tích vai trò lãnh đạo của đảng bộ huyện Thanh Sơn, Phú Thọ trong thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 2007-2014.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2015

115
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

0.3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp của luận văn

0.7. Cấu trúc của luận văn

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN THANH SƠN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Các nguyên tắc của chính sách dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

1.2. Quan điểm, chủ trương của Đảng về dân tộc và chính sách dân tộc

1.3. Cơ sở thực tiễn

1.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thanh Sơn

1.3.2. Sinh thái nhân văn và bức tranh phân bố cư dân - dân tộc

1.3.3. Văn hóa các dân tộc thiểu số rất phong phú và đa dạng

1.4. Quá trình thực hiện chính sách dân tộc trước năm 2007 của Đảng bộ huyện Thanh Sơn

1.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN THANH SƠN TỪ KHI CHIA TÁCH HUYỆN ĐẾN NĂM 2014

2.1. Chủ trƣơng của Đảng bộ huyện Thanh Sơn về thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2007 đến năm 2014

2.2. Quá trình Đảng bộ huyện Thanh Sơn lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2007 đến năm 2014

2.2.1. Lãnh đạo thực hiện chính sách đoàn kết

2.2.2. Lãnh đạo thực hiện chính sách bình đẳng

2.2.3. Lãnh đạo thực hiện chính sách tương trợ

2.3. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

3.1. Bài học kinh nghiệm

3.2. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về Chính Sách Dân Tộc Tại Huyện Thanh Sơn 2007 2014

Chính sách dân tộc tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, trong giai đoạn 2007-2014 đã được thực hiện với nhiều nỗ lực nhằm cải thiện đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Huyện Thanh Sơn là nơi có sự đa dạng về dân tộc, với 16 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 61% dân số. Chính sách này không chỉ nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

1.1. Đặc điểm địa lý và dân cư huyện Thanh Sơn

Huyện Thanh Sơn nằm ở phía Tây Nam tỉnh Phú Thọ, có địa hình chủ yếu là đồi núi. Địa bàn này có 16 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Mường, Dao, Tày, Nùng là chủ yếu. Đặc điểm này tạo ra sự phong phú về văn hóa và phong tục tập quán, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức trong việc thực hiện chính sách dân tộc.

1.2. Tình hình kinh tế xã hội huyện Thanh Sơn

Kinh tế huyện Thanh Sơn chủ yếu dựa vào nông nghiệp, với nhiều sản phẩm truyền thống. Tuy nhiên, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Chính sách phát triển kinh tế cần được điều chỉnh để phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của từng dân tộc.

II. Vấn đề và Thách thức trong Chính Sách Dân Tộc

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện chính sách dân tộc, nhưng huyện Thanh Sơn vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Các vấn đề như đói nghèo, thiếu đất sản xuất, và sự phân hóa giàu nghèo giữa các dân tộc là những vấn đề cần được giải quyết triệt để.

2.1. Đói nghèo và thiếu đất sản xuất

Nhiều hộ dân tộc thiểu số vẫn sống trong tình trạng nghèo đói, thiếu đất sản xuất. Điều này ảnh hưởng đến khả năng phát triển kinh tế và cải thiện đời sống của họ. Cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể để giúp họ vượt qua khó khăn này.

2.2. Phân hóa giàu nghèo giữa các dân tộc

Sự phân hóa giàu nghèo giữa các dân tộc trong huyện Thanh Sơn đang gia tăng. Một số dân tộc có điều kiện phát triển tốt hơn, trong khi những dân tộc khác vẫn gặp nhiều khó khăn. Cần có các biện pháp đồng bộ để đảm bảo sự công bằng trong phát triển.

III. Phương pháp và Giải pháp Chính trong Thực hiện Chính Sách Dân Tộc

Để thực hiện hiệu quả chính sách dân tộc, huyện Thanh Sơn đã áp dụng nhiều phương pháp và giải pháp khác nhau. Các chương trình phát triển kinh tế, giáo dục và y tế đã được triển khai nhằm nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số.

3.1. Chương trình phát triển kinh tế

Chương trình phát triển kinh tế tập trung vào việc hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và phát triển các ngành nghề truyền thống. Các dự án hỗ trợ vốn và kỹ thuật đã được triển khai để giúp đồng bào dân tộc thiểu số cải thiện thu nhập.

3.2. Nâng cao chất lượng giáo dục và y tế

Chất lượng giáo dục và y tế tại huyện Thanh Sơn đã được cải thiện thông qua các chương trình đào tạo và hỗ trợ y tế. Việc nâng cao nhận thức về sức khỏe và giáo dục cho đồng bào dân tộc thiểu số là rất cần thiết.

IV. Ứng dụng Thực tiễn và Kết quả Nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy chính sách dân tộc tại huyện Thanh Sơn đã có những tác động tích cực đến đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục cải thiện và điều chỉnh để đạt được hiệu quả cao hơn.

4.1. Tác động tích cực đến đời sống

Chính sách dân tộc đã giúp nhiều hộ gia đình dân tộc thiểu số cải thiện đời sống vật chất và tinh thần. Sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương đã tạo ra những thay đổi tích cực trong cộng đồng.

4.2. Những hạn chế cần khắc phục

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trong việc thực hiện chính sách dân tộc. Cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các cấp chính quyền và cộng đồng để khắc phục những vấn đề còn tồn tại.

V. Kết luận và Tương lai của Chính Sách Dân Tộc

Chính sách dân tộc tại huyện Thanh Sơn trong giai đoạn 2007-2014 đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng cũng còn nhiều thách thức. Tương lai của chính sách này cần được định hướng rõ ràng hơn để đảm bảo sự phát triển bền vững cho các dân tộc thiểu số.

5.1. Định hướng phát triển trong tương lai

Cần có các chính sách cụ thể để tiếp tục hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, đảm bảo họ có cơ hội phát triển bình đẳng. Việc xây dựng các chương trình phát triển bền vững là rất cần thiết.

5.2. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng

Sự tham gia của cộng đồng dân tộc thiểu số trong việc xây dựng và thực hiện chính sách là rất quan trọng. Cần tạo điều kiện để họ có tiếng nói trong các quyết định liên quan đến cuộc sống của mình.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ huyện thanh sơn phú thọ lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2007 đến năm 2014

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Đảng bộ huyện Thanh Sơn lãnh đạo việc thực hiện chính sách dân tộc – Cơ sở lý luận và thực tiễn - Chương 2: Chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ huyện Thanh Sơn từ khi chia tách huyện đến năm 2014 - Chương 3: Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN THANH SƠN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các nguyên tắc của chính sách dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ nước ta có trên 50 dân tộc anh em là thành viên trong cộng đồng dân tộc Việt Nam nhưng mỗi dân tộc thiểu số có tâm lý, phong tục, tập quán riêng. Người nhấn mạnh rằng: Việc xây dựng và lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, huy động sức người, sức của của các dân tộc phục vụ sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, phát triển kinh tế, văn hóa của các dân tộc, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các dân tộc, mà còn nhằm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc thiểu số trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng… Tư tưởng Hồ Chí Minh trong giải quyết vấn đề phát triển các dân tộc thiểu số và miền núi của nước ta được thể hiện trong những nội dung cơ bản sau: Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Khu tự trị Việt Bắc năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Chính sách dân tộc của chúng ta là thực hiện sự đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc. “Đoàn kết, Bình đẳng, Tương trợ” vừa là nguyên tắc, đồng thời cũng vừa là mục tiêu vươn tới trong chính sách dân tộc của Đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam.

Về Đoàn kết tất cả các dân tộc, tư tưởng này của người thể hiện nhận thức phù hợp với thực tiễn khách quan của lịch sử dân tộc Việt nam được thử thách qua những thăng trầm của lịch sử hàng ngàn năm. Đó là “tài sản vô giá” để phát huy trong thời đại vô sản, Người cho rằng: Đồng bào các dân tộc không phân biệt lớn nhỏ, phải yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà, để cùng nhau xây dựng Tổ quốc chung, xây dựng chủ nghĩa xã hội làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc, ấm no. Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân về ý thức 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xây dựng và giữ gìn sự đoàn kết dân tộc. Người luôn luôn đánh giá cao vai trò của nhân dân: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân.

Trong thế giới không có gì mạnh bằng sức mạnh của nhân dân” [37, tr. Nhân dân chính là người sáng tạo ra lịch sử, do đó muốn thực hiện đại đoàn kết lâu dài thì phải luôn luôn lấy dân làm gốc. Người khẳng định: Nhờ sức mạnh đoàn kết đấu tranh của các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng, tất cả đều như anh em trong một nhà, không có sự phân biệt nòi giống, tiếng nói gì nữa. Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa [35, tr.

Người nhấn mạnh : “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Êđê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau” [35, tr. Người cũng chỉ ra rằng: các dân tộc anh em sinh sống trên đất nước phải đoàn kết với nhau: “Đã gọi là đoàn kết thì phải giúp đỡ nhau như anh em trong nhà. Dân tộc nhiều người phải giúp đỡ dân tộc ít người, dân tộc ít người phải cố gắng làm ruộng.

Hai bên giúp đỡ nhau” [36, tr. Chủ tịch Hồ chí Minh đánh giá cao vị trí, vai trò, tầm quan trọng, tiềm năng to lớn của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong sự nghiệp cách mạng: “Miền núi nước ta chiếm một vị trí quan trọng đối với quốc phòng, đối với kinh tế” [37, tr. Người đánh giá cáo bản lĩnh, tính thật thà, chất phác, trọng lẽ phải của đồng bào các dân tộc: “Đồng bào các dân tộc rất thật thà và rất tốt. Nếu nói đúng thì đồng bào nghe, đồng bào làm và làm được” [39, tr.

Đánh giá đúng vị trí của miền núi, vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số, làm cơ sở để đề ra chiến lược và mục tiêu phù hợp với nhiệm vụ cách mạng cụ thể trong từng thời kỳ, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960), Người chỉ rõ: “Đảng và Nhà nước dân chủ nhân dân cần phải làm cho miền núi tiến kịp với miền xuôi, vùng cao và vùng biên giới tiến kịp với vùng nội địa, các dân tộc thiểu số tiến kịp dân tộc Kinh, giúp đỡ các dân tộc phát huy tinh thần cách mạng và năng lực to lớn của mình, cùng nhau đoàn kết chặt chẽ để tiến lên chủ nghĩa xã hội” [11, tr. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Hồ Chí Minh: “Muốn thực hiện tốt chính sách dân tộc, công tác dân tộc thì phải am hiểu về miền núi, về con người miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số, vì mỗi dân tộc thiểu số có nếp sống, tâm lý, bản sắc riêng đa dạng và phong phú. Muốn tiến hành sự nghiệp cách mạng nói chung và công tác dân tộc nói riêng, thì phải nghiên cứu cho hiểu rõ phong tục mọi nơi” [36,tr. Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ phải gắn bó thật sự với đồng bào, nắm vững và phân tích đúng tình hình, hiểu rõ phong tục tập quán và làm cho đồng bào tin yêu mà tiến hành công tác vận động đồng bào miền núi cụ thể thiết thực, phù hợp, dễ hiểu để đồng bào làm được.

Các chủ trương, chính sách, biện pháp phát triển kinh tế, văn hóa ở miền núi đòi hỏi phải thực hiện khẩn trương, nhưng không nóng vội, rập khuân máy móc mà phải thận trọng, vững chắc, toàn diện, hiệu quả, đem lại lợi ích cho đồng bào. Hồ Chí Minh xác định vai trò to lớn của Nhà nước, của các cơ quan đoàn thể và cán bộ đối với sự phát triển của vùng dân tộc và miền núi. Người luôn nhắc nhở và giao nhiệm vụ cho các cơ quan Trung ương phải có trách nhiệm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số còn gặp khó khăn. Trách nhiệm thực hiện công tác dân tộc là của mọi nghành, mọi cấp, chứ không phải chỉ là nhiệm vụ của một cơ quan chuyên trách làm công tác dân tộc.

Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số và coi đây là nhân tố quyết định để thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc của Đảng, là một yêu cầu khách quan của cách mạng Việt Nam. “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [38, tr. “Cán bộ tốt” là người chiếm được niềm tin của quần chúng, là cán bộ “khéo lãnh đạo” và bản thân phải biết tin nhân dân cho nên cần đặc biệt chú trọng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số, đồng thời tăng cường đoàn kết giữa cán bộ tại chỗ và cán bộ nơi khác đến, làm động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số và vùng miền núi. Hồ Chí Minh chỉ ra rằng nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số phải toàn diện, vừa chú trọng văn hóa, vừa chú trọng chính trị, để hình thành một đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số vừa có tài, vừa có đức, phải phù hợp với trình độ và đặc điểm của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền.

10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hồ Chí Minh cho rằng phát triển văn hóa, xây dựng đời sống mới là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế, tạo điều kiện để chăm sóc sức khỏe, nâng cao thể lực cho đồng bào. Phải chú ý đến việc phòng bệnh, khám chữa bệnh cho đồng bào bằng cách phát triển mạng lưới y tế, đào tạo cán bộ y tế trong đồng bào dân tộc thiểu số góp phần đấu tranh, xóa bỏ hủ tục còn tồn tại trong đồng bào bằng cách tuyên truyền, giáo dục vận động đồng bào xây dựng đời sống văn hóa. Ngay trong việc giúp đỡ đồng bào miền núi xây dựng đời sống văn hóa mới, người cán bộ trong thực hiện cũng phải cải tạo và xây dựng dần dần, phải tính đến tập quán lâu đời ăn sâu vào cuộc sống của đồng bào bao đời nay, không được nóng vội. Trong kháng chiến, ở những vùng có bộ đội, có cơ quan của ta thì ta gúp đỡ nhân dân chữa bệnh để họ đỡ cúng bái.

Bây giờ có nhiều bệnh viện, bệnh xá, ở biên giới có các đồng chí công an vũ trang giúp dân chữa bệnh rất tốt. Nhưng chưa phải là đã hết cúng bái mê tín. Vì đó là phong tục tập quán đã lâu đời. Muốn cải tạo phong tục tập quán được tốt thì tuyên huấn phải làm, mà phải làm bền bỉ liên tục, làm dần dần chứ không thể chủ quan nóng vội, muốn làm hết ngay một lúc [39, tr.

Không chỉ có vậy, Người còn chỉ cụ thể: “Cái gì phải xóa? - Mê tín hủ tục. Cái gì cần phát triển - Văn hóa giáo dục, vệ sinh, phòng bệnh”. Quan điểm, chủ trương của Đảng về dân tộc và chính sách dân tộc Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã quan tâm đến vấn đề dân tộc. Chính sách dân tộc và cơ sở lý thuyết của chính sách dân tộc được thể hiện trong các văn kiện của các kỳ đại hội Đảng, Hiến pháp và những pháp luật liên quan của Nhà nước Việt Nam.

Trong nghị quyết Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương, vấn đề dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc được Đảng đề ra trong chương trình hành động và được Quốc tế cộng sản hoàn toàn nhất trí. Đảng Cộng sản thừa nhận các dân tộc được quyền tự do hoàn toàn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ