Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ huyện lương sơn hòa bình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2005 đến năm 2014

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh đảng bộ huyện lương sơn hòa bình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2005 đến năm 2014, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

110
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

0.5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu

0.6. Những đóng góp của luận văn

0.7. Cấu trúc của luận văn

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN LƢƠNG SƠN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRONG GIAI ĐOẠN 2005 – 2010

1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên - xã hội huyện Lƣơng Sơn

1.2. Vài nét về chính sách dân tộc của Đảng và Đảng bộ tỉnh Hòa Bình

1.3. Đảng bộ huyện Lƣơng Sơn xác định một số nội dung cơ bản trong việc thực hiện chính sách dân tộc

1.4. Quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ huyện Lƣơng Sơn

1.5. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN LƢƠNG SƠN ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRONG GIAI ĐOẠN 2010 – 2014

2.1. Một số nội dung mới trong chính sách dân tộc của Đảng và Đảng bộ tỉnh Hòa Bình

2.2. Đảng bộ huyện Lƣơng Sơn điều chỉnh một số nội dung trong việc thực hiện chính sách dân tộc

2.3. Đảng bộ huyện Lƣơng Sơn đẩy mạnh lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc

2.4. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Một số nhận xét

3.2. Về hạn chế

3.3. Một số kinh nghiệm

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Chính Sách Dân Tộc Tại Huyện Lương Sơn 2005 2014

Chính sách dân tộc tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, trong giai đoạn 2005-2014 đã được Đảng bộ huyện đặc biệt chú trọng. Đây là giai đoạn quan trọng trong việc thực hiện các chính sách nhằm phát triển kinh tế - xã hội cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Chính sách này không chỉ nhằm nâng cao đời sống vật chất mà còn bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc. Đảng bộ huyện đã xác định rõ vai trò của chính sách dân tộc trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, góp phần vào sự phát triển bền vững của địa phương.

1.1. Đặc điểm tự nhiên và xã hội huyện Lương Sơn

Huyện Lương Sơn có địa hình đa dạng với nhiều dân tộc sinh sống. Đặc điểm tự nhiên như khí hậu, đất đai ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất của người dân. Sự đa dạng văn hóa giữa các dân tộc tạo nên một bức tranh phong phú, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức trong việc thực hiện chính sách dân tộc.

1.2. Vai trò của chính sách dân tộc trong phát triển kinh tế

Chính sách dân tộc đã góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội tại huyện Lương Sơn. Các chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế cho đồng bào dân tộc thiểu số đã được triển khai, giúp nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn cần khắc phục.

II. Những thách thức trong việc thực hiện chính sách dân tộc

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện chính sách dân tộc, huyện Lương Sơn vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Những vấn đề như nhận thức chưa đầy đủ về chính sách, sự thiếu đồng bộ trong triển khai và quản lý chính sách đã ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện. Đặc biệt, sự phân hóa giàu nghèo giữa các dân tộc cũng là một vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Nhận thức của cán bộ và người dân về chính sách

Một trong những thách thức lớn nhất là nhận thức của cán bộ và người dân về chính sách dân tộc còn hạn chế. Nhiều người chưa hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện chính sách, dẫn đến sự thiếu hợp tác trong triển khai.

2.2. Sự thiếu đồng bộ trong triển khai chính sách

Việc triển khai chính sách dân tộc tại huyện Lương Sơn còn thiếu đồng bộ giữa các cấp, các ngành. Điều này dẫn đến tình trạng một số chương trình không được thực hiện hiệu quả, gây lãng phí nguồn lực và thời gian.

III. Phương pháp thực hiện chính sách dân tộc hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc, huyện Lương Sơn cần áp dụng các phương pháp phù hợp. Việc tăng cường sự tham gia của cộng đồng, cải thiện công tác tuyên truyền và đào tạo cán bộ là những giải pháp quan trọng. Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong việc triển khai chính sách.

3.1. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng

Việc khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào quá trình xây dựng và thực hiện chính sách là rất cần thiết. Điều này không chỉ giúp nâng cao nhận thức mà còn tạo ra sự đồng thuận trong cộng đồng.

3.2. Cải thiện công tác tuyên truyền

Công tác tuyên truyền về chính sách dân tộc cần được cải thiện để người dân hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Các hình thức tuyên truyền đa dạng sẽ giúp nâng cao hiệu quả truyền thông.

IV. Kết quả đạt được từ chính sách dân tộc

Trong giai đoạn 2005-2014, chính sách dân tộc tại huyện Lương Sơn đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Nhiều chương trình phát triển kinh tế, văn hóa đã được triển khai, góp phần nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục theo dõi và đánh giá để điều chỉnh kịp thời.

4.1. Những thành tựu nổi bật trong phát triển kinh tế

Chính sách dân tộc đã giúp nhiều hộ gia đình dân tộc thiểu số cải thiện thu nhập thông qua các chương trình hỗ trợ sản xuất. Nhiều mô hình kinh tế mới đã được hình thành, tạo ra việc làm và thu nhập ổn định.

4.2. Đánh giá tác động đến đời sống văn hóa

Chính sách cũng đã góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc. Nhiều hoạt động văn hóa, thể thao đã được tổ chức, tạo cơ hội giao lưu và học hỏi giữa các dân tộc.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho chính sách dân tộc

Chính sách dân tộc tại huyện Lương Sơn trong giai đoạn 2005-2014 đã có những bước tiến đáng kể. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả bền vững, cần có những điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức, cải thiện công tác quản lý và phát huy vai trò của cộng đồng.

5.1. Đề xuất các giải pháp cải thiện chính sách

Cần có các giải pháp cụ thể để cải thiện chính sách dân tộc, bao gồm việc tăng cường đào tạo cán bộ, nâng cao năng lực cho các tổ chức cộng đồng và cải thiện cơ chế giám sát.

5.2. Tầm nhìn cho sự phát triển bền vững

Tầm nhìn cho sự phát triển bền vững của chính sách dân tộc cần hướng đến việc xây dựng một cộng đồng đoàn kết, phát triển kinh tế - xã hội đồng bộ, bảo tồn văn hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào dân tộc thiểu số.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ huyện lương sơn hòa bình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2005 đến năm 2014

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Đảng bộ huyện Lương Sơn lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc trong giai đoạn 2005 – 2014. Chương 2: Đảng bộ huyện Lương Sơn đẩy mạnh thực hiện chính sách dân tộc trong giai đoạn 2010 – 2014. Một số nhận xét và kinh nghiệm.

11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN LƢƠNG SƠN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRONG GIAI ĐOẠN 2005 – 2010 1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên - xã hội huyện Lƣơng Sơn Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý: Huyện Lương Sơn là cửa ngõ của tỉnh miền núi Hòa Bình và miền Tây Bắc Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 40km, địa giới liền kề với khu công nghệ cao Hòa Lạc, khu đô thị Phú Cát, Miếu Môn (Hà Nội), Đại học quốc gia, làng văn hóa các dân tộc. Huyện nằm ở tọa độ địa lí: từ 105025’14” – 105041’25” Kinh độ Đông; 20036’30” – 20057’22”. Huyện Lương Sơn nằm ở phần phía Nam của dãy núi Ba Vì (còn gọi là Viên Nam), nơi có một phần của vườn quốc gia Ba Vì. Phía Tây giáp huyện Kỳ Sơn, phía Nam giáp huyện Kim Bôi, phía Đông và phía Bắc giáp các huyện của thủ đô Hà Nội (các huyện này trước ngày 1 tháng 8 năm 2008 thuộc tỉnh Hà Tây cũ) gồm: Mỹ Đức, Chương Mỹ, Quốc Oai, Thạch Thất, Ba Vì).

Về địa hình: Huyện Lương Sơn thuộc vùng trung du – nơi chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, nên địa hình rất đa dạng. Địa hình đồi núi thấp có độ cao tương đối nhau khoảng 200-400m được hình thành bởi đá macma, đá vôi và các trầm tích lục nguyên, có mạng lưới sông , suối khá dày đặc. Khí hậu: Lương Sơn thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa đông lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều. Nền nhiệt trung bình cả năm 22,9 – 23,30c.

Lượng mưa bình quân từ 1.255,6 mm/ năm, nhưng phân bố không đều trong năm và ngay cả trong mùa cũng rất thất thường. Nguồn nƣớc: Lương Sơn có mạng lưới sông, suối phân bố tương đối đồng đều trong các xã. Con sông lớn nhất chảy qua huyện là sông Bùi, bắt 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguồn từ dãy núi Viên Nam cao 1.029m thuộc xã Lâm Sơn dài 32 km. Đầu tiên sông chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, khi đến xã Tân Vinh thì nhập với suối Bu (bắt nguồn từ xã Trường Sơn), dòng sông đổi hướng chảy quanh co, uốn khúc theo hướng Tây – Đông cho đến hết địa phận huyện.

Sông Bùi mang tính chất một con sông già, thung lũng rộng, đáy bằng, độ dốc nhỏ, có khả năng tích nước [62]. Ngoài sông Bùi trong huyện còn một số sông, suối nhỏ “nội địa” có khả năng tiêu thoát nước tốt. Đặc điểm của hệ thống sông, suối trong huyện có ý nghĩa về mặt kinh tế, rất thuận lợi cho việc xây dựng các hồ chứa sử dụng chống lũ và kết hợp với tưới tiêu, phục vụ sản xuất nông nghiệp. Có thể thấy, điều kiện khí hậu, thủy văn, sông ngòi đã tạo cho Lương Sơn những thuận lợi trong phát triển nông nghiệp, đa dạng hóa các loại cây trồng, vật nuôi, thâm canh tăng vụ và phát triển lâm nghiệp.

Hệ thống sông suối, hồ đập không những là nguồn tài nguyên cung cấp nước cho sinh hoạt và đời sống nhân dân mà còn có tác dụng điều hòa khí hậu, cải thiện môi trường sinh thái và phát triển nguồn lợi thủy sản. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác: Tài nguyên nước: Nước ngầm ở Lương Sơn có trữ lượng khá lớn, chất lượng nước phần lớn chưa bị ô nhiễm, lại được phân bố khắp các vùng trên địa bàn huyện. Tài nguyên nước mặt gồm nước sông, suối và nước mưa, phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở vùng phía Bắc huyện và một số hồ đập nhỏ phân bố rải rác toàn huyện. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tài nguyên rừng: Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 18.733,19 ha chiếm 49,68% diện tích tự nhiên.

Rừng tự nhiên của huyện khá đa dạng và phong phú với nhiều loại gỗ quý. Nhưng do tác động của con người, rừng đã mất đi quá nhiều và thay thế chúng là rừng thứ sinh. Diện tích rừng phân bố ở tất cả các xã trong huyện. Nhờ quan tâm phát triển kinh tế đồi rừng, kinh tế trang trại rừng đã góp phần đem lại thu nhập cao cho người dân và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, giữ nước đầu nguồn, cải thiện cảnh quan khu vực.

Tài nguyên khoáng sản: Trên địa bàn huyện có các loại khoáng sản trữ lượng lớn đó là đá vôi, đá xây dựng, đất sét, đá bazan và quặng đa kim. Tài nguyên du lịch: Với vị trí thuận lợi gần Thủ đô Hà Nội và địa hình xen kẽ nhiều núi đồi, thung lũng rộng phẳng, kết hợp với hệ thống sông, suối, hồ tự nhiên, nhân tạo cùng với hệ thống rừng… đã tạo cảnh quan thiên nhiên và điều kiện phù hợp để huyện Lương Sơn phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, sân golf. Trên địa bàn huyện có nhiều danh lam thắng cảnh, di chỉ khảo cổ học, hệ thống hang động, núi đá tự nhiên như: hang Trầm, hang Rồng, hang Tằm, hang Trổ, động Đá Bạc, động Long Tiên… đây là những tiềm năng để phát triển những tour du lịch danh lam thắng cảnh kết hợp với nghỉ dưỡng [62]. Ngoài ra Lương Sơn cũng là huyện có nguồn tài nguyên du lịch văn hóa vật thể và phi vật thể.

Những lợi thế về giao thông cùng tiềm năng to lớn về tài nguyên thiên nhiên như: có nhiều núi đá vôi phục vụ ngành sản xuất vật liệu xây dựng, có 14.000 hecta đồi núi và đất đai màu mỡ để phát triển nông, lâm nghiệp. Huyện còn có điều kiện xây dựng các khu nghỉ dưỡng, phát triển du lịch…Hiện nay trên địa bàn huyện có rất nhiều dự án lớn như sân golf 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phượng Hoàng và Làng văn hóa các dân tộc tỉnh Hòa Bình (xã Lâm Sơn), khu du lịch sinh thái (xóm Mòng – thị trấn Lương Sơn)… Điều kiện kinh tế - xã hội Hành chính Từ thời Nguyễn trở về trước, Lương Sơn có tên gọi là huyện Mỹ Lương thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây có 7 tổng với 49 xã, thôn. Ngày 22/6/1886, Quyền kinh lược Bắc Kỳ ký nghị định cắt đất đai có đông đồng bào Mường, cư trú thuộc tỉnh Hưng Hóa, Sơn Tây, Hà Nội và Ninh Bình, thành lập một tỉnh mới gọi là tỉnh Mường và tên gọi Lương Sơn chính thức có từ ngày 22/6/1886. Lúc đó gọi là Phủ Lương Sơn, bao gồm 6 tổng.

Đến ngày 21/3/1890 phủ Lương Sơn mới trở lại Đạo Mỹ Đức vừa được tái lập. Nhưng do vị trí địa lý và tầm quan trọng của Lương Sơn, ngày 18/3/1891 toàn quyền Đông Dương ra nghị định xóa bỏ lần thứ hai đạo Mỹ Đức trả lại phủ Lương Sơn cho tỉnh Hòa Bình và phủ Lương Sơn được đổi thành Châu Lương Sơn, gồm 5 tổng và 19 xã, bao gồm: tổng Bằng Lộ, Cư Yên, Thanh Nông, Kim Bôi, Tú Sơn. Châu Lương Sơn lúc đó có diện tích 926 km2, dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộc Mường. Ngày 17/4/1959 căn cứ vào địa lý, tình hình cư dân và nhu cầu về xây dựng kinh tế, quốc phòng, thủ tướng Chính phủ đã ra Nghị quyết số 153 chia huyện Lương Sơn thành hai huyện Lương Sơn và Kim Bôi.

Ngày 3/1/1971 huyện đã bàn giao 8 xã (Tân Thành, Hợp Châu, Cao Thắng, Long Sơn, Thanh Lương, Hợp Thanh, Cao Dương, Thanh Nông) có diện tích 4.559,44 ha và dân số 14.852 người về huyện Kim Bôi, giải thể xã Hùng Sơn và Thị trấn nông trường Cửu Long để thành lập thị trấn Lương Sơn theo quyết đinh của Hội đồng Bộ trưởng (Quyết định số 71/BT, số 13/BT), từ đây địa giới hành chính của huyện được ổn định gồm 17 xã và 1 thị trấn [1]. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Căn cứ Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH ngày 29/5/2008 của Quốc hội về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên quan. Từ ngày 1/8/2008 huyện Lương Sơn bàn giao 4 xã thuộc vùng Bắc (Yên Trung, Yên Bình, Tiến Xuân, Đông Xuân) về thành phố Hà Nội, huyện còn lại 13 xã và 1 thị trấn. Thực hiện Nghị quyết số 31/NQ-Cp ngày 14/7/2009 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số huyện và thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, huyện Lương Sơn được nhận thêm 7 xã của huyện Kim Bôi gồm các xã: Tân Thành, Hợp Châu, Cao Thắng, Long Sơn, Thanh Lương, Hợp Thanh, Cao Dương và chuyển xã Yên Quang về huyện Kỳ Sơn [64].

Diện tích, dân số và giáo dục Huyện Lương Sơn có diện tích tự nhiên là 37. Dân số toàn huyện là trên 97 nghìn người (số liệu năm 2014). Từ xa xưa Lương Sơn là địa bàn sinh sống của người Mường. Người Mường có mặt khắp các xã, chiếm trên 65% dân số toàn huyện.

Người Kinh sống xen lẫn với người Mường và chiếm khoảng 30% dân số toàn huyện, còn lại là người Dao và các dân tộc khác chiểm tỷ lệ nhỏ [32, tr 2]. Toàn huyện có hơn 24 trường mầm non, 46 trường tiểu học và trường trung học cơ sở, 4 trường phổ thông trung học và một trung tâm giáo dục thường xuyên (số liệu năm 2014). Trong đó có trên 30% giáo viên toàn huyện là người dân tộc thiểu số [32, tr 3]. Kinh tế Về kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2014 đạt 11,5%.

Cơ cấu kinh tế: Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 23,1%; Công nghiệp, xây dựng chiếm 48,1%; Thương mại – dịch vụ chiếm 28,8%. Giá trị sản xuất đạt 7.678,3 tỷ đồng, trong đó, lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp đạt 1.547 tỷ đồng; công 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp – xây dựng đạt 4.250 tỷ đồng; thương mại – dịch vụ đạt 1. Thu nhập bình quân đầu người tăng khá. Theo số liệu thống kê, năm 2010 thu nhập bình quân đầu người đạt 18,2 triệu đồng/năm, năm 2014 đạt 36,6 triệu đồng/năm.

Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 7% (năm 2010) xuống còn 5,25% (năm 2014) [78, tr 4]. Thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 11/5/2012 của Tỉnh ủy Hòa Bình, huyện Lương Sơn sẽ phát triển nhanh, bền vững trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch, quản lý sử dụng hợp lý tài nguyên, thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái. Với mục tiêu tổng quát là huy động các nguồn lực, xây dựng vùng trung tâm huyện Lương Sơn thành đô thị loại IV vào năm 2020, tạo tiền đề để sớm trở thành thị xã Lương Sơn vào năm 2025.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ