Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về thực hiện chính sách bảo vệ môi trường. - Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ môi trường ở huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. - Chương 3: Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ môi trường từ thực tiễn huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆNCHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG 1.
Một số khái niệm cơ bản Môi trường Môi trường là khái niệm rộng với nhiều định nghĩa khác nhau. Quan niệm chung nhất và rộng nhất về môi trường là gồm chúng ta và tất cả những gì xung quanh chúng ta, gồm môi trường tư nhiên và môi trường nhân tạo. Trong tiếng Anh, “environment” có nghĩa là môi trường, từ này có nguồn gốc từ một từ tiếng Pháp “environner”, có nghĩa là bao quanh một điểm nào đấy, hay tất cả những gì bao quanh một điểm trung tâm. Theo cách hiểu như vậy, môi trường có thể được hiểu là toàn bộ điều kiện tự nhiên, xã hội và văn hóa bao quanh, có ảnh hưởng đến cuộc sống của một cá nhân hay cộng đồng.
Vấn đề môi trường c ng có thể được coi là bao gồm các vấn đề như tắc nghẽn giao thông, tội phạm, tiếng ồn,. Xét về m t địa lý, môi trường có thể hiểu là một khu vực nào đó ho c là toàn bộ hành tinh của chúng ta. Môi trường là tổ hợp các thành phần của thế giới vật chất làm cơ sở cho sự tồn tại, phát triển của thế giới sinh vật và con người. Theo Khoản 1, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 định nghĩa: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triến của con người và sinh vật”.
“Môi trường” c ng có thể được hiểu là toàn bộ những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người, sinh vật ấy. Như vậy, chúng ta có thể hiểu các thành tố của môi trường bao gồm: - Môi trường tự nhiên: là những gì vốn có trong tự nhiên, là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học có quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành hệ thống tự nhiên và vận động theo những quy luật của tự nhiên, ví dụ như: đất, 8 nước, không khí,. - Môi trường nhân tạo: là những gì con người tạo ra, đưa vào môi trường như chất thải (rắn, lỏng, khí) ho c làm biến đổi, thay đổi các thành phần của môi trường tự nhiên, làm cho môi trường tự nhiên (ở khu vực nhất định) trở thành một trạng thái đ c biệt, như môi trường ở khu vực đô thị hay công trường xây dựng, khu công nghiệp,. Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển.
Môi trường có 5 chức năng sau: - Là không gian sống: con người và các sinh vật khác chỉ có thể tồn tại và phát triển trong môi trường tự nhiên nhất định. Đó là không gian sống, sinh tồn duy nhất, nghĩa là môi trường cung cấp các điều kiện sống tự nhiên cơ bản cho mọi loài, trong đó có con người. - Là nơi cung cấp đầu vào (tài nguyên): là không gian sống, sinh tồn của con người nên môi trường đồng thời c ng là nơi (nguồn) cung cấp các yếu tố vật chất như là “đầu vào” cho các quá trình lao động, sản xuất ra của cải vật chất cho cuộc sống của con người và xã hội, như khoáng sản, gỗ, nước,. - Là nơi chứa (tiếp nhận) chất thải: chất thải là vật chất còn lại không được sử dụng tiếp tục cho hoạt động lao động, sản xuất và sinh hoạt con người, được thải ra và môi trường là nơi duy nhất tiếp nhận mọi chất thải.
Trong phạm vi không gian nhất định, môi trường chỉ có thể tiếp nhận có giới hạn một lượng chất thải nhất định, được gọi là năng lực tải hay mức chịu tải của môi trường. - Giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật: hạn chế l lụt, điều hòa khí hậu, chắn bão cát,. - Là nơi lưu giữ thông tin sự sống (nguồngen, đa dạng sinh học,.): đây là chức năng mới được các nhà khoa học môi trường bổ sung, xuất phát từ những thông tin sự sống được lưu giữ trong tự nhiên được khoa học khám phá và khai thác cho phát triển xã hội. Trong xã hội hiện đại, thông tin là một 9 tài nguyên thì c ng có thể coi môi trường tự nhiên cung cấp một loại tài nguyên đ c biệt - thông tin về sự sống.
Bảo vệ môi trường - Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nh m giữ môi trường trong lành. - Nguyên tắc về bảo vệ môi trường theo quy định tại Điều 4, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 thì các nguyên tắc bảo vệ môi trường bao gồm: - Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. - Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành. - Bảo vệ môi trường phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu chất thải.
- Bảo vệ môi trường quốc gia gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu; Bảo vệ môi trường bảo đảm không phương hại chủ quyền, an ninh quốc gia. - Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đ c điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. - Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên và ưu tiên ph ng ngừa ô nhiễm, sự cổ, suy thoái môi trường. - Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thành phần môi trường, được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường.
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy 10 định của pháp luật. Chính sách bảo vệ môi trường - Chính sách là một thành tố, công cụ của quản lý. Chính sách công là thành tố của quản lý nhà nước, có thể được hiểu “là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” (V Cao Đàm, Quản lý học đại cương, 1996). - Chính sách công có thể được hiểu “là tổng thể chương trình hành động của các chủ thể nắm quyền lực công, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và bảo đảm cho xã hội phát triển bền vững, ổn định”.
Từ quan niệm trên, chính sách công được hiểu theo nghĩa rộng: Là kết quả của việc cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng cầm quyền thành các quyết định, tập hợp các quyết định chính trị với mục tiêu, giải pháp, công cụ nh m giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế, xã hội và phục vụ người dân. Chính sách bảo vệ môi trường (hay chính sách môi trường) là chính sách công. Như vậy, có thể định nghĩa Chính sách bảo vệ môi trường là tổng thể chương trình hành động của Nhà nước nhằm tạo ra sự chuyển biến về chất lượng các điều kiện về môi trường phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội nhằm đạt được các mục tiêu đề ra về môi trường và bảo đảm cho sự phát triển bền vững, ổn định của xã hội. Chính sách bảo vệ môi trường nông thôn là một loại chính sách công nh m bảo vệ môi trường nông thôn, là một bộ phận của chính sách bảo vệ môi trường, tập trung vào các vấn đề môi trường ở nông thôn và có liên quan 11 ch t chẽ với các bộ phận khác của chính sách bảo vệ môi trường (môi trường đô thị, tài nguyên đất, nước, đa dạng sinh học.) Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường Thực hiện chính sách là một khâu quan trọng trong chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực.
Tổ chức thực hiện chính sách có vị trí đ c biệt quan trọng, là bước hiện thực hóa chính sách vào đời sống xã hội. Nó (việc thực hiện chính sách) được tiến hành ngay sau khi chính sách được ban hành và được hiểu là quá trình tổ chức các hoạt động nh m thực thi các nội dung được quy định trong chính sách một cách có hiệu quả. Như vậy, thực hiện chính sách bảo vệ môi trường là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể nh m phát huy tính tích cực, chủ động trong thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường; bảo vệ, phòng ngừa và xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đảm bảo quyền con người được sống trong môi trường trong lành và bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững. Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, nh m điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hoạt động bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, để những chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường đi vào cuộc sống và trở thành hành vi xử sự, hợp pháp của các chủ thể pháp luật về bảo vệ môi trường, phát huy tác dụng của nó trong thực tiễn, Nhà nước phải giữ vai trò trụ cột trong việc thực hiện và tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường.