Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) tại Việt Nam được ban hành từ ngày 01/10/2009 trong khuôn khổ Luật Bảo hiểm xã hội 2006, sau đó được điều chỉnh toàn diện theo Luật Việc làm số 38/2013/QH13 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015). Trong điều kiện kinh tế thị trường và quá trình công nghiệp hóa, thất nghiệp là hiện tượng kinh tế - xã hội tất yếu. Giai đoạn 2020 - 2022, tác động tiêu cực của suy thoái kinh tế và đại dịch COVID-19 đã làm gia tăng áp lực mất việc làm, đẩy người lao động vào hoàn cảnh khó khăn, khiến vai trò của chính sách BHTN như một công cụ an sinh xã hội và quản trị thị trường lao động trở nên cấp thiết.

Tại thành phố Hà Nội, quận Hai Bà Trưng là địa bàn nội thành có mật độ dân cư cao và hoạt động kinh tế sôi động, đi đầu trong việc tuyên truyền và tổ chức thực hiện chính sách BHTN. Tuy nhiên, việc thực thi chính sách tại quận vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế: người lao động bị mất việc làm phải đi lại nhiều lần do cơ quan giải quyết chưa ứng dụng đồng bộ công nghệ thông tin để tiếp nhận và trả kết quả trực tuyến; sự phối hợp giữa cơ quan giải quyết hưởng (Trung tâm Dịch vụ việc làm thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội) và cơ quan chi trả (Bảo hiểm xã hội quận) chưa thường xuyên; công tác thu hồi tiền trợ cấp thất nghiệp do hưởng sai quy định đạt hiệu quả thấp. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách BHTN tại địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và phân tích thực trạng thực hiện chính sách BHTN tại quận Hai Bà Trưng giai đoạn 2020 - 2022, đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao việc thực thi chính sách này trong thời gian tiếp theo.

Khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện chính sách BHTN.
  2. Phân tích tình hình thực hiện chính sách BHTN tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
  3. Đưa ra một số quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện chính sách BHTN tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Đối tượng nghiên cứu là việc thực hiện chính sách BHTN tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Phạm vi không gian giới hạn tại địa bàn quận Hai Bà Trưng (diện tích 9,2 km², dân số 303.586 người theo tổng điều tra năm 2019). Phạm vi thời gian tập trung vào số liệu thực thi công tác BHTN từ năm 2020 đến năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận cơ sở lý luận từ chuyên ngành Chính sách công và Quản lý công. Về mặt lý thuyết kinh tế, tác giả viện dẫn quan điểm của Paul Samuelson về thất nghiệp như một hiện tượng người có khả năng lao động bị tách khỏi tư liệu sản xuất, cùng lý thuyết của John Maynard Keynes trong tác phẩm "The General Theory of Employment, Interest, and Money" (1936) khẳng định thất nghiệp bắt buộc là hệ quả mang tính quy luật trong quá trình xác lập trạng thái cân bằng của hệ thống kinh tế. Về mặt quản lý nhà nước, nghiên cứu sử dụng khái niệm BHTN theo khoản 3 Điều 3 Luật Việc làm 2013 và khung chu trình thực thi chính sách công gồm 7 bước: xây dựng kế hoạch; phổ biến, tuyên truyền; phân công, phối hợp; duy trì chính sách; điều chỉnh chính sách; giám sát, đôn đốc, kiểm tra; đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở phân tích gồm:

  • Luật Việc làm số 38/2013/QH13 và Luật Bảo hiểm xã hội 2006;
  • Điều 214 và Điều 216 Bộ luật Hình sự năm 2015;
  • Nghị định số 28/2015/NĐ-CP, Nghị định số 61/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 28/2015/NĐ-CP; Nghị định số 95/2013/NĐ-CP và Nghị định số 88/2015/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính; Nghị định quy định về giao dịch điện tử trong lĩnh vực BHXH, BHYT, BHTN (2016);
  • Nghị quyết số 116/NQ-CP ngày 24/9/2021 của Chính phủ về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 từ Quỹ BHTN;
  • Quyết định số 77/2014/QĐ-TTg, Quyết định số 60/2015/QĐ-TTg, Quyết định số 17/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ;
  • Thông tư số 28/2015/TT-BLĐTBXH, Thông tư số 139/2015/TT-BQP, Thông tư số 20/2016/TT-BTC, Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT-BLĐTBXH-BCA;
  • Quyết định số 595/QĐ-BHXH (2017), Quyết định số 1035/QĐ-BHXH (2015), Quyết định số 166/QĐ-BHXH (2019) của BHXH Việt Nam; Quyết định số 2992/QĐ-UBND ngày 05/6/2019 của UBND TP. Hà Nội;
  • Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.

Phương pháp nghiên cứu bao gồm:

  • Phương pháp khoa học chính sách: Phân tích tiến trình thực hiện chính sách theo các giai đoạn quản trị công.
  • Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu: Khai thác số liệu thứ cấp từ báo cáo thống kê, các hội nghị tổng kết, báo cáo kết quả quản lý và chi trả BHTN của BHXH quận Hai Bà Trưng giai đoạn 2020 - 2022.
  • Phương pháp quan sát, tổng hợp thông tin: Thu thập phản ánh từ thực tế kiểm tra, đoàn thanh tra, người lao động và đơn vị sử dụng lao động.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả phỏng vấn sâu đối với người lao động trên địa bàn quận (điển hình như trường hợp của người lao động tại phường Đồng Tâm) nhằm thu thập thông tin về khó khăn trong quy trình thủ tục đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Nguồn dữ liệu của đề tài được cấu thành từ dữ liệu thống kê hành chính chính thức của UBND quận Hai Bà Trưng, cơ quan BHXH quận Hai Bà Trưng, Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội và Tổng cục Thống kê.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp

Chương 1 hệ thống hóa khái niệm về thất nghiệp, người thất nghiệp (từ đủ 15 tuổi trở lên, không có việc làm, đang tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc) và tỷ lệ thất nghiệp. Phân tích nguyên nhân thất nghiệp dưới góc độ suy thoái toàn cầu, trình độ lao động còn hạn chế và hiện tượng nhảy việc thiếu định hướng của lao động trẻ. Tác giả làm rõ bản chất của BHTN theo Luật Việc làm 2013 và trình bày chi tiết quy trình thực hiện chính sách qua 7 bước chuẩn tắc.

Chương này cũng phân tích các quy định hiện hành về BHTN tại Việt Nam:

  • Đối tượng bắt buộc tham gia: Người lao động ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn, xác định thời hạn hoặc hợp đồng thời vụ từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.
  • Mức đóng: Người lao động đóng 1% tiền lương tháng; người sử dụng lao động đóng 1% quỹ tiền lương tháng; Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng BHTN từ ngân sách trung ương.
  • Điều kiện hưởng: Chấm dứt hợp đồng hợp pháp, đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên, nộp hồ sơ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày mất việc và chưa tìm được việc làm sau 15 ngày nộp hồ sơ.
  • Quyền lợi: Hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 06 tháng liền kề trước khi nghỉ việc (không quá 05 lần mức lương cơ sở hoặc lương tối thiểu vùng); tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí; hỗ trợ học nghề (tối đa 4.000.000 đồng/người/khóa dưới 03 tháng hoặc 1.000.000 đồng/người/tháng cho khóa trên 03 tháng); hỗ trợ người sử dụng lao động kinh phí đào tạo duy trì việc làm 1.000.000 đồng/người/tháng (tối đa 06 tháng).
  • Các nhân tố ảnh hưởng: Cơ sở vật chất; môi trường kinh tế - chính trị - xã hội; năng lực chủ thể thực thi chính sách; mức độ ủng hộ của nhân dân.

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

Chương 2 mô tả bối cảnh quận Hai Bà Trưng (mật độ dân số 29.589 người/km²). Thị trường lao động chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi dịch COVID-19: quý II/2020 và quý III/2021 ghi nhận tỷ lệ thất nghiệp đạt đỉnh; đến năm 2022, lực lượng lao động trong độ tuổi đạt 151,6 nghìn người (quý IV/2022 đạt 152,7 nghìn người), số người có việc làm đạt 148 nghìn người (quý IV/2022 đạt 149,1 nghìn người), tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống 2,35% (quý IV/2022 là 2,33%).

Bộ máy thực hiện chính sách trên địa bàn bao gồm hai cơ quan thuộc hai nhánh quản lý khác nhau: Cơ quan BHXH quận Hai Bà Trưng (thuộc hệ thống ngành dọc của BHXH Việt Nam, phụ trách thu nộp, chi trả và quản lý Quỹ BHTN) và Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội (chi nhánh đặt tại quận Hai Bà Trưng thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, tiếp nhận hồ sơ, tư vấn việc làm và giải quyết học nghề) phối hợp cùng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội (tham mưu ban hành quyết định).

Tiến trình thực hiện chính sách được phân tích qua 7 bước: xây dựng kế hoạch theo Quyết định 2992/QĐ-UBND ngày 05/6/2019; đẩy mạnh tuyên truyền qua đài truyền thanh, Liên đoàn Lao động và hội nghị doanh nghiệp; phối hợp liên ngành giữa Phòng Kinh tế, Công an quận, Tòa án nhân dân và Chi cục Thuế; duy trì thanh toán qua ATM và dịch vụ công mức độ 4; điều chỉnh chính sách theo Nghị quyết 116/NQ-CP (giảm mức đóng quỹ lương của người sử dụng lao động từ 1% xuống 0% từ 24/9/2021 đến 30/9/2022); tổ chức thanh tra, kiểm tra; định kỳ sơ kết, tổng kết đánh giá 6 tháng và 12 tháng.

Các bảng số liệu tổng hợp phản ánh thực trạng:

Bảng 1: Số lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp và tổng số tiền thu bảo hiểm thất nghiệp

Nội dung Năm 2020 Năm 2021 Năm 2022
Số đơn vị tham gia (đơn vị) 4.023 4.678 5.399
Số người tham gia BHTN (nghìn người) 54,4 57,7 58,5
Tổng số tiền thu BHTN (đồng) 90.924.780.989 89.678.567.569 102.679.462.290
Số nợ đọng BHTN (đồng) 83.922.083.225 90.463.930.105 84.203.090.481

Bảng 2: Tình hình chi chế độ bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp thất nghiệp

Nội dung Năm 2020 Năm 2021 Năm 2022
Tổng số tiền chi BHTN (đồng) 32.851.123.371 33.046.552.149 41.040.981.077
Tổng số chi trợ cấp thất nghiệp (đồng) 31.293.980.123 32.798.703.008 40.733.173.719

Bảng 3: Số lượng người tiếp nhận và giải quyết hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp

Nội dung Năm 2020 Năm 2021 Năm 2022
Số người nộp hồ sơ hưởng BHTN (người) 1.724 1.833 2.223
Số người có quyết định hưởng TCTN (người) 1.669 1.743 2.200

Bảng 4: Số người thất nghiệp được tư vấn, giới thiệu việc làm và giới thiệu học nghề

Nội dung Năm 2020 Năm 2021 Năm 2022
Số người thất nghiệp được tư vấn, giới thiệu việc làm (người) 3.041 3.784 4.731
Số người thất nghiệp được hỗ trợ học nghề (người) 407 440 488

Hạn chế chính được chỉ ra gồm: tính liên kết giữa hai cơ quan ngành dọc và địa phương chưa chặt chẽ; thủ tục hành chính còn gây phiền hà, người lao động phải đi lại nhiều lần; ứng dụng công nghệ thông tin liên thông chưa triệt để; hiện tượng trục lợi quỹ BHTN (vừa hưởng trợ cấp vừa đi làm); công tác thu hồi nợ đọng BHTN và số tiền hưởng sai quy định còn gặp nhiều vướng mắc.

Chương 3: Quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

Chương 3 đề xuất định hướng dựa trên Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII về cải cách chính sách BHXH. Quan điểm chủ đạo là mở rộng diện bao phủ sang khu vực lao động phi chính thức; bảo đảm nguyên tắc chia sẻ rủi ro, đóng - hưởng; ứng dụng chuyển đổi số và tinh gọn bộ máy thực hiện.

Tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp dài hạn:

  1. Mở rộng diện bao phủ: Bổ sung đối tượng tham gia là người lao động có hợp đồng từ 01 tháng trở lên và người quản lý doanh nghiệp; quy định chặt chẽ trách nhiệm khai báo việc làm; áp dụng mức đóng linh hoạt dựa trên kết dư quỹ; hoàn thiện chế tài đối với doanh nghiệp nợ đọng, trốn đóng; thống nhất cách tính và bảo lưu thời gian đóng.
  2. Sửa đổi, bổ sung các chế độ BHTN: Đơn giản hóa thủ tục hưởng kinh phí đào tạo bồi dưỡng nâng cao tay nghề duy trì việc làm; quy định bắt buộc tham gia tư vấn, giới thiệu việc làm để duy trì điều kiện nhận trợ cấp hàng tháng; kiểm soát điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp nhằm hạn chế tình trạng tự ý nghỉ việc để nhận tiền trợ cấp; mở rộng nội dung đào tạo kỹ năng nghề; bổ sung chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động tuyển dụng lao động đang chờ hoặc đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.
  3. Hoàn thiện tổ chức thực thi: Hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin; liên thông dữ liệu giữa Trung tâm Dịch vụ việc làm và cơ quan BHXH nhằm xử lý hồ sơ trực tuyến cấp độ cao, cắt giảm đầu mối trung gian và giải quyết dứt điểm độ trễ cấp/thu hồi thẻ BHYT.

Đồng thời, chương 3 nêu 5 giải pháp cụ thể trước mắt: đẩy mạnh tuyên truyền đa kênh; tăng cường phối hợp thanh tra liên ngành giữa Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội với BHXH quận; nâng cao ý thức tuân thủ của người lao động; hoàn thiện mạng lưới chi nhánh dịch vụ việc làm; đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ công chức trực tiếp xử lý hồ sơ.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đạt được các kết quả định lượng cụ thể:

  • Làm rõ sự gia tăng về quy mô tham gia: số đơn vị tham gia tăng từ 4.023 đơn vị (2020) lên 5.399 đơn vị (2022); số lao động tham gia đạt 58,5 nghìn người năm 2022 (chiếm 42,3% lực lượng lao động trong độ tuổi); tổng số thu BHTN năm 2022 vượt mốc 102,67 tỷ đồng.
  • Thống kê chi tiết cơ cấu chi trả: năm 2022 tổng số chi BHTN là 41,04 tỷ đồng, trong đó 99,25% số tiền chi dành cho trợ cấp thất nghiệp (đạt 40,73 tỷ đồng), mức hưởng bình quân đạt 3,7 triệu đồng/người/tháng.
  • Thống kê công tác nghiệp vụ: năm 2022 có 2.223 người nộp hồ sơ thì 2.200 người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp; số lượt tư vấn giới thiệu việc làm đạt 4.731 lượt; số người hỗ trợ học nghề đạt 488 người.
  • Đánh giá quy mô nợ đọng: số nợ đọng BHTN duy trì ở mức cao qua các năm (83,92 tỷ đồng năm 2020; 90,46 tỷ đồng năm 2021; 84,20 tỷ đồng năm 2022).

Về giải pháp, nghiên cứu đóng góp hệ thống 3 nhóm giải pháp tổng thể gắn với sửa đổi cơ chế chính sách của Luật Việc làm và 5 nhóm giải pháp quản lý công vụ trước mắt tại địa bàn quận.

Đóng góp của đề tài so với các nghiên cứu trước đây thể hiện ở chỗ: trong khi các công trình đi trước chủ yếu phân tích khung pháp lý hoặc đánh giá thực trạng trên phạm vi toàn quốc, khóa luận này tập trung phân tích sâu việc vận hành chính sách BHTN ở cấp quận nội thành (Hai Bà Trưng, Hà Nội) trong giai đoạn biến động dịch COVID-19 (2020 - 2022). Tác giả đã chỉ rõ sự xung đột về cơ chế tổ chức giữa cơ quan giải quyết hưởng thuộc ngành LĐ-TB&XH và cơ quan chi trả thuộc BHXH quận, cung cấp dữ liệu thực chứng cho các nhà quản lý địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có các hạn chế sau:

  • Phạm vi nghiên cứu giới hạn tại một quận nội thành (quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội) nên các phát hiện chưa bao quát được các địa bàn có đặc thù nông nghiệp hoặc khu công nghiệp ngoại thành.
  • Giai đoạn nghiên cứu 2020 - 2022 là thời kỳ đặc biệt chịu tác động của dịch COVID-19 và có sự can thiệp của các gói hỗ trợ đặc thù (như Nghị quyết 116/NQ-CP), do đó dữ liệu có tính đột biến nhất định.
  • Nguồn số liệu chủ yếu dựa trên báo cáo hành chính thứ cấp; phương pháp phỏng vấn sâu mới chỉ tiếp cận một số người lao động cá biệt, chưa tổ chức được khảo sát định lượng quy mô mẫu lớn về sự hài lòng của người thụ hưởng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng khảo sát định lượng trên diện rộng, so sánh hiệu quả thực thi chính sách giữa các quận nội thành và huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội, đồng thời nghiên cứu tác động thực tế của việc số hóa dữ liệu liên ngành khi Luật Việc làm sửa đổi được Quốc hội thông qua.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên các ngành Chính sách công, Quản lý công, Bảo hiểm xã hội, Luật Kinh tế và Xã hội học khi nghiên cứu về quá trình triển khai chính sách an sinh xã hội tại cơ sở.

Tài liệu có giá trị đặc thù cho cán bộ quản lý và công chức thực thi tại các cơ quan Bảo hiểm xã hội quận/huyện, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, và các Trung tâm Dịch vụ việc làm. Phần nội dung đáng tham khảo nhất là Chương 2 với hệ thống bảng số liệu phản ánh chi tiết mối quan hệ giữa số thu, số chi, số nợ đọng BHTN và phân tích sự thiếu đồng bộ giữa quy trình tiếp nhận hồ sơ và quy trình chi trả chế độ.

Câu hỏi thường gặp

1. Diễn biến tỷ lệ thất nghiệp trên địa bàn quận Hai Bà Trưng giai đoạn 2020 - 2022 có đặc điểm gì nổi bật?
Tỷ lệ thất nghiệp trên địa bàn quận đạt mức cao nhất vào quý II/2020 và quý III/2021 do tác động tiêu cực của các đợt bùng phát dịch COVID-19. Đến năm 2022, khi các hoạt động kinh tế phục hồi và doanh nghiệp gia tăng tuyển dụng vào dịp cuối năm, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động đã giảm xuống còn 2,35% (riêng quý IV/2022 là 2,33%).

2. Tỷ lệ chi trả các chế độ BHTN tại quận Hai Bà Trưng giai đoạn 2020 - 2022 phản ánh thực tế nào?
Theo báo cáo của BHXH quận Hai Bà Trưng, có tới 99,25% tổng số tiền chi BHTN được dùng để chi trả trợ cấp thất nghiệp hàng tháng (năm 2022 đạt 40,73 tỷ đồng trên tổng chi 41,04 tỷ đồng, mức hưởng bình quân 3,7 triệu đồng/người/tháng). Tỷ lệ chi hỗ trợ học nghề chỉ chiếm phần rất nhỏ (0,75%), phản ánh thực tế người lao động chỉ quan tâm đến trợ cấp tiền mặt trước mắt mà chưa chú trọng đến đào tạo nghề để chuyển đổi việc làm lâu dài.

3. Chính sách giảm mức đóng BHTN theo Nghị quyết số 116/NQ-CP đã được triển khai như thế nào tại quận?
Thực hiện Nghị quyết số 116/NQ-CP ngày 24/9/2021 của Chính phủ, người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 được giảm mức đóng vào Quỹ BHTN từ 1% quỹ tiền lương tháng xuống 0%. Chính sách này được thực hiện đến hết quý III năm 2022. Từ ngày 01/10/2022, mức đóng BHTN của người sử dụng lao động được khôi phục lại mức 1%.

4. Đâu là nguyên nhân căn bản khiến người lao động phải đi lại nhiều lần khi làm thủ tục hưởng BHTN tại quận?
Nguyên nhân chủ yếu do cơ chế tổ chức thực hiện chính sách BHTN bị phân tách giữa hai cơ quan khác nhau: Trung tâm Dịch vụ việc làm (thuộc ngành LĐ-TB&XH) tiếp nhận hồ sơ, còn cơ quan BHXH quận thực hiện chi trả và quản lý quá trình đóng. Hai cơ quan này chưa liên thông đồng bộ cơ sở dữ liệu điện tử, việc tiếp nhận và xử lý dịch vụ công trực tuyến còn vướng mắc, buộc người lao động phải nộp hồ sơ trực tiếp và di chuyển giữa các bên.

5. Tác giả đề xuất giải pháp gì nhằm hạn chế tình trạng người lao động chủ động nghỉ việc để trục lợi trợ cấp thất nghiệp?
Khóa luận đề xuất cần rà soát và siết chặt điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp trong Luật Việc làm để phản ánh đúng bản chất thất nghiệp không tự nguyện; đồng thời quy định việc tham gia các phiên tư vấn, giới thiệu việc làm tại Trung tâm Dịch vụ việc làm là điều kiện bắt buộc để người lao động được tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp các tháng tiếp theo.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Phương Linh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về chu trình thực hiện chính sách công và phân tích thực trạng thực thi chính sách bảo hiểm thất nghiệp tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội giai đoạn 2020 - 2022. Kết quả nghiên cứu làm nổi bật sự gia tăng về quy mô tham gia, số thu và giải quyết chế độ cho người lao động trong bối cảnh đại dịch, đồng thời chỉ ra các hạn chế cố hữu về nợ đọng, trục lợi quỹ và sự thiếu liên thông giữa hai cơ quan thực thi. Trên cơ sở đó, công trình đã đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực quản lý nhà nước phù hợp với định hướng cải cách an sinh xã hội hiện nay.