Chương 1: Những vấn đề lý luận về đánh giá chính sách xây dựng nông thôn mới. Chương 2: Thực trạng thực hiện và những vấn đề đặt ra về chính sách xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách xây dựng nông thôn mới. 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.
Khái niệm, mục tiêu và vai trò của nông thôn mới 1. Các khái niệm Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở: "Nông thôn Việt Nam là danh từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp". Trong quản lý hành chính nhà nước, theo Thông tư 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã. Như vậy, nông thôn, trước hết đó không phải là đô thị (về không gian sống, về cấu trúc và tổ chức xã hội, về quan hệ con người và sinh kế), là môi trường sống của người nông dân, nơi diễn ra các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội với nhiều nét đặc thù của khu vực nông thôn.
Nông thôn là nơi định cư của những người sống chủ yếu bằng nghề nông, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu; về cơ cấu kinh tế, nông nghiệp chiếm tỷ trọng chủ yếu; bên cạnh nông dân sống bằng nghề nông nghiệp, khu vực nông thôn vẫn có một số ít người sống bằng nghề phi nông nghiệp, chủ yếu là kinh doanh nhỏ, làm nghề truyền thống với phân công lao động giản đơn, trình độ sản xuất không cao. Một trong những đặc điểm lớn của cư dân nông thôn là có mối quan hệ họ tộc và gia đình khá chặc chẽ, khắn khít, tính cộng đồng cao, các thiết chế xã hội như gia đình, dòng họ, làng xóm. chi phối lớn đến hành vi của mỗi người. Về NTM: hiện nay có nhiều cách hiểu, nhiều quan niệm khác nhau về NTM, tùy thuộc vào cách tiếp cận của từng nhà nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau như: văn hóa, xã hội học, kinh tế, quản lý nhà nước.
Theo Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương về Nông nghiệp, nông dân, nông 8 thôn, có thể hiểu: NTM là nông thôn có kết cấu hạ tầng KT -XH từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa [1]. Để xây dựng nông thôn với các nội dung trên, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM bao gồm 19 tiêu chí. Khi xã đạt đủ 19 tiêu chí thì được công nhận là xã NTM. NTM về bản chất vẫn là nông thôn, là khu vực cộng đồng dân cư nông thôn sinh sống, nhưng phát triển ở mức cao hơn, với những đặc cơ bản: - Nông thôn được xây dựng và phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ; - Kinh tế phát triển, xã hội ổn định, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên; - Bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy; dân trí được nâng lên; - An ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; - Hệ thống chính trị vững mạnh, dân chủ.
Xây dựng NTM của Việt Nam hiện nay là chủ trương, quyết sách lớn của Đảng, Nhà nước ta nhằm xây dựng nông thôn phát triển bền vững, có kinh tế phát triển, đời sống của người dân được nâng lên, an ninh - chính trị được đảm bảo, các giá trị văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy. Cụ thể là xây dựng nông thôn đạt 19 tiêu chí trong bộ tiêu chí Quốc gia về NTM. Hay nói cách khác, xây dựng NTM là quá trình thực hiện chính sách NTM. Mục tiêu xây dựng nông thôn mới - Mục tiêu tổng quát Giai đoạn 2010-2020: Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng KT-XH từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo 9 quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đến năm 2016, sau khi kết thúc giai đoạn 2010-2015, một số nội dung mục tiêu tổng quát được điều chỉnh, bổ sung. Theo đó, khẳng định xây dựng NTM để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; có kết cấu hạ tầng KT-XH phù hợp (trước đây là hiện đại). Các nội dung còn lại cơ bản giữ như mục tiêu chung đưa ra năm 2010 cho giai đoạn 2010-2020. - Mục tiêu cụ thể: Đối với cả nước: đến năm 2015 có 20% số xã đạt tiêu chuẩn NTM; đến năm 2020 có 50% số xã đạt tiêu chuẩn NTM.
Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đưa ra mục tiêu cụ thể hơn cho giai đoạn 2016-2020. Mục tiêu phấn đấu số xã đạt NTM của từng vùng, miền là: Miền núi phía Bắc: 28,0%; Đồng bằng sông Hồng: 80%; Bắc Trung Bộ: 59%; Duyên hải Nam Trung Bộ: 60%; Tây Nguyên 43%; Đông Nam Bộ: 80%; Đồng bằng sông Cửu Long: 51%); Khuyến khích mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phấn đấu có ít nhất 01 huyện đạt chuẩn NTM. Bình quân cả nước đạt 15 tiêu chí/xã (trong đó, mục tiêu phấn đấu của từng vùng, miền là: Miền núi phía Bắc: 13,8; Đồng bằng sông Hồng: 18,0; Bắc Trung Bộ: 16,5; Duyên hải Nam Trung Bộ: 16,5; Tây Nguyên: 15,2; Đông Nam Bộ: 17,5; Đồng bằng sông Cửu Long: 16,6); cả nước không còn xã dưới 5 tiêu chí. Cơ bản hoàn thành các công trình thiết yếu đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và đời sống của cư dân nông thôn: giao thông, điện, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế xã; Nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn; tạo nhiều mô hình sản xuất gắn với việc làm ổn định cho nhân dân, thu nhập tăng ít nhất 1,8 lần so với năm 2015.
Đối với tỉnh Quảng Nam: theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XX (năm 2010): Phấn đấu đến năm 2015, có trên 20% số xã đạt tiêu chuẩn NTM. Theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XXI (năm 2015): 10 đến năm 2020, có 50% số xã đạt chuẩn NTM. Vai trò của mô hình nông thôn mới đối với sự phát triển Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2015, Việt Nam có 8.971 xã (chiếm hơn 80%) trong tổng số 11.155 đơn vị hành chính cấp xã, dân số sống ở khu vực nông thôn chiếm khoảng 66,06% dân số của cả nước; trong khi đó, ngành nông, lâm, ngư nghiệp chỉ chiếm 17% tổng sản phẩm trong nước (theo giá thực tế) [19]. Những số liệu này cho thấy khu vực nông nghiệp, nông thôn mặc dù chiếm tỷ trọng lớn về diện tích và dân số nhưng kinh tế có quy mô nhỏ.
Trước khi triển khai thực hiện chương trình MTQG xây dựng NTM, khu vực nông thôn Việt Nam đối diện với nhiều thách thức như: phát triển thiếu bền vững, thiếu định hướng, tự phát; kinh tế phát triển chậm, sản xuất nhỏ lẽ, manh mún, năng suất lao động thấp, chưa có nhiều mô hình sản xuất phù hợp; kết cấu hạ tầng chưa được đầu tư nhiều, thiếu đồng bộ; đời sống vật chất, tinh thần của người dân có nâng lên nhưng vẫn còn khoảng cách lớn so với khu vực đô thị; một số giá trị văn hóa truyền thống có dấu hiệu mai mọt, biến dạng; an ninh - chính trị, trật tự an toàn xã hội một số nơi diễn biến phức tạp. Thực trạng này đòi hỏi cần có chính sách toàn diện để phát triển nông thôn một cách bền vững, đó là chương trình MTQG xây dựng NTM. Vai trò của mô hình NTM được thể hiện qua các mặt sau: - Về định hướng phát triển: yêu cầu đầu tiên trong xây dựng NTM là công tác quy hoạch, đây là định hướng quan trọng để xây dựng và phát triển nông thôn một cách bài bản, chủ động. Các loại quy hoạch cần có: quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển hạ tầng KT-XH - môi trường, quy hoạch phát triển các khu dân cư.
- Về hạ tầng KT-XH: mô hình NTM với những yêu cầu cụ thể về đường giao thông, hệ thống kênh mương thủy lợi, hạ tầng trường lớp học, điện, chợ, cơ sở vật chất văn hóa và đặt biệt là nhà ở dân cư, là tiền đề trọng để thay đổi bộ mặt nông thôn, đáp ứng các nhu cầu phát triển KT-XH. Thực trạng chung của hạ tầng khu vực nông thôn Việt Nam hiện nay là vừa yếu, vừa thiếu đồng bộ, trong khi nguồn lực đầu tư hết sức hạn chế. Khi xây dựng NTM, bắt buộc các cấp chính quyền phải huy động, lồng ghép các nguồn vốn để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Một trong 11 những thuận lợi là có một số cơ chế đầu tư, huy động và quản lý, sử dụng vốn đặc thù khi phát triển kết cấu hạ tầng trong xây dựng NTM, nên tiến độ đầu tư nhanh hơn, hiệu quả sử dụng cao hơn và nguồn lực được huy động nhiều hơn so với trước đây.
- Về kinh tế: xây dựng mô hình NTM sẽ tạo điều kiện để khu vực nông thôn phát triển sản xuất theo hướng hàng hoá, hướng đến thị trường, giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo, nâng cao mức sống và thu nhập trong dân cư. Để giải quyết tốt vấn đề này, nhà nước phải có cơ chế, chính sách hỗ trợ các mô hình sản xuất hiệu quả, phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, định hướng tổ chức sản xuất theo quy hoạch, tính toàn hài hòa đầu vào - đầu ra, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng đất, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ trong sản xuất; từng bước chấm dứt tình trạng sản xuất manh mún, tự cung tự cấp, tự phát.