Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu khoa học “Quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội ở tỉnh Điện Biên từ năm 2004 đến năm 2014” là luận án tiến sĩ lịch sử thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 9.13), do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thắm thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đinh Quang Hải, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào năm 2020.
Về tính cấp thiết, an sinh xã hội (ASXH) được xác định là sản phẩm của xã hội tiến bộ, giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển bền vững của quốc gia nhằm bảo đảm an toàn cho các thành viên trong xã hội trước những rủi ro kinh tế - xã hội. Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, hệ thống chính sách ASXH tại Việt Nam đã khẳng định vai trò ổn định đời sống nhân dân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và bảo đảm công bằng xã hội. Tinh thần này được khẳng định nhất quán trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, trong đó chỉ rõ chính sách xã hội là mục tiêu và động lực phát triển nhanh, bền vững. Đối với tỉnh Điện Biên – một tỉnh miền núi, biên giới phía Tây Bắc được thành lập trên cơ sở chia tách tỉnh Lai Châu theo Nghị quyết phê chuẩn của Quốc hội khóa X ngày 26/11/2003 (chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2004) – việc triển khai ASXH đặt ra yêu cầu rất bức thiết. Điện Biên có địa hình hiểm trở, thường xuyên chịu ảnh hưởng tiêu cực của thiên tai, sạt lở, lũ quét; kinh tế phát triển chậm, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 85% dân số với trình độ dân trí và mức thu nhập thấp. Trong giai đoạn 2004 - 2014, công tác ASXH tại đây đã đạt nhiều chuyển biến nhưng cũng bộc lộ không ít khó khăn, nhiều chỉ số phát triển xã hội vẫn thấp hơn mức trung bình của cả nước.
Về khoảng trống nghiên cứu, các công trình đã công bố chủ yếu tiếp cận vấn đề ASXH dưới góc độ kinh tế, luật học hoặc xã hội học ở tầm quốc gia, hoặc chỉ khảo sát các khía cạnh đơn lẻ tại địa phương như xóa đói giảm nghèo, di dân tái định cư thủy điện, hoặc trợ cấp người khuyết tật. Chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện, phục dựng một cách có hệ thống quá trình tổ chức triển khai chính sách ASXH trên toàn địa bàn tỉnh Điện Biên trong suốt thập niên đầu sau khi tái lập tỉnh dưới góc độ khoa học lịch sử.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ quá trình triển khai thực hiện chính sách ASXH ở tỉnh Điện Biên sau 10 năm thành lập tỉnh (2004 - 2014), qua đó đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử, cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và thực tiễn giúp cấp ủy, chính quyền địa phương hoàn thiện và thực thi chính sách ASXH trong giai đoạn tiếp theo.
Nhiệm vụ nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể qua bốn nội dung:
- Một là, hệ thống hóa và tổng quan tình hình nghiên cứu về ASXH và thực hiện chính sách ASXH của các công trình nghiên cứu đã công bố ở trong nước và trên thế giới, rút ra các kết luận về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác ASXH.
- Hai là, phân tích bối cảnh lịch sử và chỉ rõ những yếu tố tác động đến ASXH và thực hiện chính sách ASXH ở tỉnh Điện Biên.
- Ba là, trình bày thực trạng quá trình thực hiện chính sách ASXH ở tỉnh Điện Biên từ năm 2004 đến năm 2014 trên 6 trụ cột: Xóa đói giảm nghèo; Giải quyết việc làm; Chính sách đối với người có công; Bảo hiểm xã hội; Bảo trợ xã hội và dịch vụ xã hội cơ bản.
- Bốn là, đánh giá thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong quá trình thực hiện chính sách ASXH của tỉnh Điện Biên; rút ra một số nhận xét và kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chính sách ASXH ở tỉnh Điện Biên từ năm 2004 đến năm 2014.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội tại tỉnh Điện Biên từ năm 2004 đến năm 2014.
Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Về nội dung: Tập trung vào 6 trụ cột căn bản của chính sách ASXH gồm: xóa đói giảm nghèo; giải quyết việc làm; chính sách đối với người có công; bảo hiểm xã hội; bảo trợ xã hội; và bảo đảm các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân.
- Về không gian: Nghiên cứu trên phạm vi địa bàn hành chính tỉnh Điện Biên (gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện), đồng thời có sự mở rộng so sánh, đối chiếu với một số địa phương lân cận trong khu vực Tây Bắc có điều kiện tương đồng.
- Về thời gian: Trọng tâm từ năm 2004 (thời điểm thành lập tỉnh Điện Biên sau chia tách) đến năm 2014 (thời điểm địa phương tổng kết 10 năm xây dựng và phát triển tỉnh). Để bảo đảm tính lịch sử logic, tác giả có khái quát thực trạng trước năm 2004 và liên hệ sau năm 2014.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã khảo cứu khối lượng tài liệu phong phú, phân loại theo ba nhóm công trình nghiên cứu chính:
Các công trình nghiên cứu quốc tế:
Tác giả điểm lại lịch sử hình thành chính sách an sinh bắt nguồn từ cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ XIX, cột mốc Đạo luật ASXH (Social Security Act) năm 1935 tại Hoa Kỳ, Hiến chương Đại Tây Dương (1941), Tuyên ngôn Nhân quyền Liên hợp quốc (1948) và các cam kết của ILO, WHO, WB, ADB. Về mặt lý thuyết kinh tế và tài chính, Richardson, J. Henry (1960) trong Các khía cạnh kinh tế và tài chính của An sinh xã hội - Điều tra Quốc tế đã phân tích quan hệ giữa bảo hiểm xã hội và ngân sách nhà nước. Ehtisham Ahmad, Jean Drèze, John Hills và Amartya Sen (1991) với cuốn An sinh xã hội ở các nước đang phát triển đã luận giải cách hiểu ASXH gắn liền với xóa đói giảm nghèo tại các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc, khu vực Mỹ Latinh và Nam Phi. Martin Feldstein (2005) trong nghiên cứu Cải cách cơ cấu của an sinh xã hội đề cập xu hướng tư nhân hóa một phần quỹ an sinh tại Hoa Kỳ. Tác giả Журавлева Ирина Витальевна (2007) trong Trật tự chi trả mới cho người bệnh phân tích chính sách trợ cấp mất sức lao động tại Nga; Trần Quang Trung (2008) với Tác dụng cân bằng về an sinh xã hội nghiên cứu tác động cải cách lương hưu khu vực công tại các nước đang phát triển. Dương Phú Hiệp, Hansjorg Herr, Milka Kazandziska (2012) qua cuốn Lao động, tiền lương, An sinh xã hội: Một số kinh nghiệm của thế giới đã so sánh các mô hình an sinh quốc tế. Đinh Công Tuấn, Đinh Công Hoàng (2013) nghiên cứu sự thích ứng của hệ thống ASXH Bắc Âu trước khủng hoảng kinh tế; Trần Thị Nhung (2008) phân tích hệ thống đảm bảo xã hội và chính sách hưu trí ở Nhật Bản. Nghiên cứu kinh nghiệm châu Á còn có Trần Tín Dũng (1997), Đặng Đại Tùng (2007), Đặng Công Thành (2008) về cải cách bảo hiểm nông thôn và 30 năm ASXH tại Trung Quốc; Hướng Vận Hoa (2010) về an sinh khu vực Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao; Nguyễn Duy Dũng (2015) khảo cứu kinh nghiệm giải quyết an sinh tại Thái Lan, Malaysia và Philippines.
Các công trình nghiên cứu trong nước:
Về lý luận và đường lối, nhóm tác giả Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Nguyễn Văn Hiền, Nguyễn Viết Thông (2016) và nhóm Đinh Thế Huynh, Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Viết Thông (2015) đã hệ thống quan điểm đổi mới của Đảng về chính sách xã hội, đặt chính sách xã hội ngang tầm với chính sách kinh tế. Ngân hàng Thế giới (1995) công bố báo cáo Việt Nam - Đánh giá nghèo đói và chiến lược hỗ trợ quốc gia; Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (2007) xuất bản Báo cáo phát triển Việt Nam 2008 nhấn mạnh bảo trợ xã hội và phòng ngừa rủi ro. Lê Bạch Dương, Đặng Nguyễn Anh, Khuất Thu Hồng (2005) nghiên cứu nhu cầu bảo trợ của các nhóm chịu thiệt thòi như nông dân nghèo, lao động di cư và người khuyết tật. Mai Ngọc Cường (2009) mô hình hóa hệ thống chính sách ASXH Việt Nam thành ba hợp phần: phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro. Nhiều luận án tiến sĩ đã đi sâu vào các khía cạnh chuyên ngành như: Mai Ngọc Anh (2009) nghiên cứu ASXH cho nông dân; Nguyễn Hiền Phương (2009) nghiên cứu hoàn thiện pháp luật ASXH; Nguyễn Văn Nhường (2010) đánh giá an sinh cho nông dân vùng thu hồi đất tại Bắc Ninh; Phan Thị Kim Oanh (2014) khảo cứu vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân tại ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh; Nguyễn Văn Chiều (2013) làm rõ vai trò của Nhà nước dưới góc độ triết học; Dương Văn Thắng (2013) nghiên cứu truyền thông báo chí về ASXH; Doãn Mậu Diệp, Đặng Kim Chung, Bùi Sỹ Lợi (2015) xây dựng cơ sở khoa học cho sàn ASXH; Nguyễn Thị Tâm (2015) bàn về ASXH gắn với tăng trưởng kinh tế. Đáng chú ý, dưới góc độ lịch sử có luận án của Nguyễn Mai Phương (2014) về sự lãnh đạo của Đảng giai đoạn 2001 - 2011 và luận án của Nguyễn Văn Tuân (2015) nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách ASXH tại tỉnh Hải Dương từ năm 1997 đến năm 2010.
Các công trình liên quan đến tỉnh Điện Biên:
Vấn đề xã hội tại địa phương bước đầu xuất hiện trong các ấn phẩm lịch sử Đảng bộ như Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lai Châu (Tỉnh ủy Lai Châu, 2002), Lịch sử Đảng bộ huyện Điện Biên tập 1 (Nông Minh Quân và cộng sự, 2005), Lịch sử Đảng bộ thị xã Mường Lay (Nông Minh Quân và cộng sự, 2011), Điện Biên - 100 năm xây dựng và phát triển (Trương Xuân Cừ và cộng sự, 2009), Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân tỉnh Điện Biên (Nông Minh Quân và cộng sự, 2013). Các nghiên cứu chuyên đề gồm: Ban Dân tộc tỉnh Điện Biên (2009) nghiên cứu chính sách dân tộc; Phạm Thành Nghị, Nguyễn Cao Đức, Lê Mạnh Hùng (2010) khảo cứu phát triển con người vùng Tây Bắc; Lê Hương Giang (2011) nghiên cứu Đảng bộ tỉnh lãnh đạo giảm nghèo giai đoạn 2004 - 2010; Nguyễn Văn Quân (2013) phân tích đất nông nghiệp tái định cư thủy điện Sơn La; Phạm Quang Hùng (2014) khảo sát thực hiện pháp luật người khuyết tật; Báo cáo dự án giảm nghèo giai đoạn 2010 - 2015 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư, UBND tỉnh Điện Biên và Ngân hàng Thế giới thực hiện (2015); Nguyễn Thị Lan Hương, Lưu Quang Tuấn, Đặng Đỗ Quyên (2015) nghiên cứu trường hợp ASXH đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại Điện Biên.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các tài liệu tại Điện Biên mới chỉ đề cập đơn lẻ tới từng chương trình giảm nghèo hoặc từng nhóm xã hội đặc thù. Chưa có công trình nào nghiên cứu bao quát, đầy đủ cả 6 trụ cột chính sách ASXH trong giai đoạn lịch sử 2004 - 2014 của tỉnh Điện Biên để rút ra quy luật phát triển, bài học kinh nghiệm và các vấn đề lịch sử đặt ra đối với địa phương miền núi biên giới này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm an sinh, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội; cùng với hệ thống chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam về chính sách xã hội. Tác giả vận dụng khung phân tích chính sách ASXH theo tinh thần Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, trong đó hệ thống an sinh được cấu trúc dựa trên nguyên lý quản lý rủi ro và bảo đảm các dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm 4 nhóm chính sách can thiệp (chính sách việc làm - thu nhập - giảm nghèo; chính sách bảo hiểm xã hội; chính sách trợ giúp xã hội; và chính sách dịch vụ xã hội cơ bản), kết hợp với cấu phần đặc thù của Việt Nam là chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Trên cơ sở đó, luận án thiết lập khung phân tích thực tiễn tại Điện Biên với 6 trụ cột:
- Xóa đói giảm nghèo
- Giải quyết việc làm cho người lao động
- Chính sách đối với người có công
- Bảo hiểm xã hội
- Bảo trợ xã hội
- Bảo đảm mức tối thiểu các dịch vụ xã hội cơ bản
Về khái niệm công cụ, tác giả tiếp thu định nghĩa chuẩn tắc của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), xác định ASXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên thông qua hệ thống biện pháp công cộng nhằm đương đầu với những biến cố suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập, đồng thời cung cấp dịch vụ y tế và trợ cấp xã hội cần thiết.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là phương pháp lịch sử và phương pháp logic:
- Phương pháp lịch sử giúp tái hiện tiến trình triển khai chính sách theo dòng thời gian, gắn liền với các mốc phát triển chính trị - kinh tế - xã hội của tỉnh Điện Biên từ khi chia tách tỉnh (năm 2004) đến thời điểm tổng kết 10 năm (năm 2014).
- Phương pháp logic kết hợp chặt chẽ với phương pháp lịch sử để hệ thống hóa chủ trương của Đảng bộ, làm rõ mối quan hệ bản chất giữa các trụ cột chính sách, đánh giá thành tựu, hạn chế và quy nạp các bài học kinh nghiệm.
- Các phương pháp bổ trợ: Phân tích và tổng hợp số liệu thống kê; phương pháp so sánh đối chiếu (so sánh giữa các giai đoạn 5 năm và so sánh giữa Điện Biên với một số tỉnh lân cận trong khu vực Tây Bắc); phương pháp điều tra điền dã khảo sát thực tế thông qua phiếu điều tra và phỏng vấn sâu tại cơ sở nhằm xác minh, kiểm chứng và bổ sung dữ liệu thực tế cho các nguồn tài liệu thành văn.
Nguồn tư liệu nghiên cứu được khai thác từ nhiều cấp độ:
- Tài liệu lưu trữ thành văn: Khai thác tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III; Kho lưu trữ Tỉnh ủy Điện Biên; Lưu trữ Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên; Phòng Lưu trữ tỉnh Điện Biên; cùng hồ sơ lưu trữ chuyên ngành của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài chính, Bảo hiểm xã hội tỉnh Điện Biên, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Ban Dân tộc và Hội Nông dân tỉnh Điện Biên.
- Tài liệu xuất bản và thống kê: Số liệu của Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê tỉnh Điện Biên; các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh, báo cáo thường niên của các sở ban ngành, kỷ yếu hội thảo, luận án và đề tài khoa học liên quan.
- Tư liệu thực địa: Nguồn tài liệu khảo sát điền dã, phỏng vấn thực tế tại các huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Điện Biên và một số địa bàn lân cận vùng Tây Bắc.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này tập trung phân tích, hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến an sinh xã hội và việc thực thi chính sách an sinh xã hội. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu quốc tế đã xây dựng nền tảng lý luận vững chắc về bản chất, chức năng phòng ngừa rủi ro và các mô hình tổ chức ASXH ở các quốc gia tư bản phát triển cũng như các nước đang phát triển. Ở trong nước, các nhà khoa học đã làm sáng tỏ đường lối của Đảng về việc gắn kết chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phân tích các trụ cột bảo hiểm, trợ giúp xã hội và xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, các công trình về tỉnh Điện Biên trước đây mới chỉ dừng lại ở các báo cáo hành chính, lịch sử địa phương mang tính biên niên hoặc nghiên cứu các khía cạnh hẹp như di dân, người khuyết tật. Chương 1 khẳng định sự cần thiết phải có một đề tài nghiên cứu độc lập, có hệ thống về toàn bộ quá trình thực hiện chính sách ASXH tại Điện Biên giai đoạn 2004 - 2014.
Chương 2: Những yếu tố tác động đến công tác an sinh xã hội ở tỉnh Điện Biên từ năm 2004 đến năm 2014
Nội dung chương làm rõ cơ sở lý luận, tình hình trước năm 2004, bối cảnh tự nhiên, kinh tế - xã hội và sự chuyển biến trong chủ trương lãnh đạo của địa phương:
- Điều kiện tự nhiên: Tỉnh Điện Biên có tọa độ địa lý từ 20°54’ đến 22°33’ vĩ độ Bắc và từ 102°10' đến 103°36' kinh độ Đông, cách Thủ đô Hà Nội 504 km; có đường biên giới giáp Lào và Trung Quốc dài trên 400 km. Địa hình dốc và hiểm trở, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với độ cao biến đổi từ 200 m đến hơn 1.000 m. Khu vực này nằm trên đới đứt gãy Lai Châu - Điện Biên có mức độ dập vỡ vỏ Trái Đất cao, thường xuyên xảy ra trượt lở, lũ bùn đá, lũ ống, lũ quét và động đất. Địa bàn là đầu nguồn ba hệ thống sông lớn: sông Đà, sông Mã (với các phụ lưu Nậm Khoai, Nậm Mạ) và sông Mê Kông (diện tích lưu vực 1.650 km² với nhánh Nậm Rốm, Nậm Núa). Khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao, nhiệt độ trung bình năm 21°C - 23°C, chịu tác động của gió tây khô nóng, hạn hán mùa khô và rét đậm rét hại mùa đông. Tổng diện tích đất tự nhiên có đất đỏ vàng chiếm 629.806,26 ha; đất phù sa thung lũng Mường Thanh chiếm 12.622,13 ha (cánh đồng rộng trên 150 km²); đất nông - lâm nghiệp chiếm 79,31%, đất phi nông nghiệp chiếm 2,27% và đất chưa sử dụng chiếm 18,41%.
- Điều kiện kinh tế - xã hội: Sau khi chia tách, quy mô kinh tế của tỉnh còn nhỏ bé, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2014 đứng thứ 63/63 tỉnh thành. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình quân 13 - 15%/năm. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế năm 2015: nông - lâm nghiệp và thủy sản chiếm 24,85%; công nghiệp - xây dựng chiếm 25,32%; dịch vụ chiếm 49,52%. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2014 vẫn ở mức rất cao là 32,57%. Thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 851.230 đồng/tháng (khoảng 10,2 triệu đồng/năm). Mức chênh lệch thu nhập giữa nhóm cao nhất và nhóm thấp nhất nới rộng theo thời gian: năm 2010 là 6,72 lần; năm 2012 là 7,45 lần; năm 2014 lên tới 8,04 lần. Về hạ tầng giao thông, toàn tỉnh có 20 tuyến tỉnh lộ (683,06 km), 87 tuyến huyện lộ (1.575,8 km) và 1.667,7 km đường dân sinh. Đến năm 2015, có 130/130 xã có đường ô tô đến trung tâm nhưng chỉ có 110/130 xã đi lại được quanh năm; 90,53% hộ dân dùng điện lưới; tỷ lệ dùng nước sạch đạt 97,1% ở thành thị nhưng nông thôn chỉ đạt 57,25%; 100% xã có trạm y tế.
- Dân số và dân tộc: Dân số năm 2004 là 423.100 người, đến năm 2017 là 564.000 người (dân số thành thị chiếm 15,1% với 85.186 người; nông thôn chiếm đa số). Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số trung bình 10 năm (2004 - 2014) là 17,56‰. Tính đến năm 2009, địa bàn có 19 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 85% dân số toàn tỉnh. Dân tộc Thái đông nhất với 186.270 người (38,4%); dân tộc Mông có 170.648 người (34,8%); dân tộc Kinh có 90.323 người (chiếm khoảng 20%); còn lại là các dân tộc Khơ Mú, Hà Nhì, Dao, Giáy, La Hủ, Lự, Hoa, Kháng, Mảng, Tày, Nùng, Mường... Đơn vị hành chính thời điểm nghiên cứu gồm 10 đơn vị: thành phố Điện Biên Phủ, thị xã Mường Lay và 8 huyện (Điện Biên, Điện Biên Đông, Mường Ảng, Mường Chà, Mường Nhé, Tủa Chùa, Tuần Giáo...).
- Chủ trương của Đảng bộ: Phân tích quá trình Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Điện Biên quán triệt, vận dụng đường lối đổi mới của Trung ương Đảng vào điều kiện địa phương, ban hành các nghị quyết chuyên đề về giảm nghèo, việc làm và an sinh xã hội.
| Chỉ số kinh tế - xã hội tỉnh Điện Biên |
Dữ liệu ghi nhận trong luận án |
| Tỷ lệ hộ nghèo năm 2014 |
32,57% |
| Thu nhập bình quân đầu người một tháng |
851.230 đồng/người/tháng |
| Mức chênh lệch thu nhập giàu - nghèo năm 2010 |
6,72 lần |
| Mức chênh lệch thu nhập giàu - nghèo năm 2012 |
7,45 lần |
| Mức chênh lệch thu nhập giàu - nghèo năm 2014 |
8,04 lần |
| Cơ cấu kinh tế năm 2015: Nông - lâm nghiệp, thủy sản |
24,85% |
| Cơ cấu kinh tế năm 2015: Công nghiệp - xây dựng |
25,32% |
| Cơ cấu kinh tế năm 2015: Dịch vụ |
49,52% |
| Tỷ lệ dân số là đồng bào dân tộc thiểu số |
85% |
| Tỷ lệ dân tộc Thái (năm 2009) |
38,4% (186.270 người) |
| Tỷ lệ dân tộc Mông (năm 2009) |
34,8% (170.648 người) |
| Tỷ lệ dân tộc Kinh (năm 2009) |
Khoảng 20% (90.323 người) |
| Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số bình quân (2004 - 2014) |
17,56‰ |
| Tỷ lệ hộ dùng điện lưới sinh hoạt (đến 2015) |
90,53% |
| Tỷ lệ hộ dùng nước sạch thành thị / nông thôn (đến 2015) |
97,1% / 57,25% |
| Xã có đường ô tô đến trung tâm / Đi lại được quanh năm |
130 trên 130 xã / 110 trên 130 xã |
Chương 3: Tỉnh Điện Biên triển khai thực hiện chính sách an sinh xã hội từ năm 2004 đến năm 2014
Chương này phục dựng chi tiết việc tổ chức thực hiện 6 trụ cột chính sách của tỉnh Điện Biên:
- Xóa đói giảm nghèo: Tỉnh triển khai đồng bộ các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững (như Nghị quyết 30a, Chương trình 135) và Dự án giảm nghèo giai đoạn 2010 - 2015 phối hợp với Ngân hàng Thế giới. Các chính sách hỗ trợ sản xuất, cho vay vốn ưu đãi, chuyển giao kỹ thuật canh tác lúa nước, ngô đồi đã giúp tỷ lệ đói nghèo từng bước giảm dần qua các năm.
- Giải quyết việc làm: Gắn công tác tạo việc làm với quy hoạch vùng chuyên canh nông - lâm nghiệp (cánh đồng lúa Mường Thanh; vùng chè, cao su huyện Tủa Chùa; cà phê, mắc ca huyện Mường Ảng; thảo quả huyện Tuần Giáo). Tỉnh tổ chức đào tạo nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn, thanh niên dân tộc thiểu số và hỗ trợ kết nối việc làm tại các cơ sở chế biến, khai thác khoáng sản, thủy điện.
- Chính sách đối với người có công: Thực hiện chi trả trợ cấp thường xuyên đúng, đủ cho các thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ và người hoạt động kháng chiến. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” được đẩy mạnh thông qua việc vận động quỹ xây dựng nhà tình nghĩa, chăm sóc, nâng cấp các nghĩa trang liệt sĩ và di tích chiến trường Điện Biên Phủ.
- Chính sách BHXH và bảo trợ xã hội: Mở rộng mạng lưới đối tượng tham gia BHXH bắt buộc trong các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp; bước đầu triển khai BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp. Thực hiện tốt chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cho các đối tượng bảo trợ tại cộng đồng (người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ mồ côi) và trợ giúp đột xuất cho người dân khi xảy ra thiên tai, lũ quét, dịch bệnh.
- Bảo đảm các dịch vụ xã hội cơ bản: Về giáo dục, ưu tiên đầu tư kiên cố hóa trường lớp, phát triển mô hình trường phổ thông dân tộc bán trú, miễn giảm học phí cho học sinh nghèo. Về y tế, cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số, bảo đảm 100% trạm y tế xã có cán bộ chăm sóc sức khỏe ban đầu. Về nhà ở, nước sạch và thông tin, tỉnh thực hiện các chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt tự chảy tại thôn bản và phổ cập bưu điện văn hóa xã.
Chương 4: Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm
Chương 4 tổng kết thực tiễn, phân tích mặt tích cực, hạn chế và đúc kết kinh nghiệm:
- Thành tựu: Hệ thống chính sách ASXH tại Điện Biên đã cơ bản được định hình, bảo đảm đời sống tối thiểu của đại bộ phận nhân dân, hạn chế tình trạng đói kinh niên, giữ vững ổn định chính trị, củng cố an ninh quốc phòng vùng biên cương.
- Hạn chế: Tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức cao (32,57% năm 2014); nguy cơ tái nghèo sau thiên tai rất lớn; khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng thấp và vùng cao ngày càng giãn rộng (chênh lệch 8,04 lần năm 2014). Tỷ lệ người lao động tham gia BHXH tự nguyện còn rất thấp. Giao thông nhiều xã chưa thông suốt trong mùa mưa lũ (20/130 xã chưa đi lại được quanh năm).
- Nguyên nhân: Nguyên nhân khách quan xuất phát từ xuất phát điểm kinh tế thấp kém, địa hình núi cao chia cắt mạnh, thiên tai lũ ống lũ quét diễn ra liên tục, nguồn ngân sách địa phương phụ thuộc phần lớn vào Trung ương. Nguyên nhân chủ quan là do năng lực quản lý điều hành ở cấp cơ sở còn bất cập, thủ tục hành chính có lúc còn rườm rà, sự phối hợp liên ngành chưa đồng bộ, một bộ phận người dân còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước.
- Đặc điểm và bài học kinh nghiệm: Đặc điểm nổi bật của quá trình thực hiện chính sách ASXH tại Điện Biên là tính chất bao phủ trên diện rộng đối với đồng bào dân tộc thiểu số (85% dân số) và gắn liền với nhiệm vụ củng cố an ninh biên giới quốc gia. Tác giả đúc kết các bài học kinh nghiệm:
- Phải đặt chính sách ASXH trong mối liên kết chặt chẽ với nhiệm vụ phát triển kinh tế và giữ vững quốc phòng - an ninh địa phương.
- Phát huy vai trò lãnh đạo tập trung của cấp ủy Đảng, sự quản lý thống nhất của chính quyền và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị.
- Quá trình thực hiện phải dựa trên cơ sở phân loại đúng đối tượng, phù hợp với phong tục tập quán và tâm lý đồng bào từng dân tộc thiểu số.
- Kết hợp hiệu quả nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức quốc tế với việc khơi dậy ý chí tự lực, tự cường vươn lên thoát nghèo của cộng đồng dân cư.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn như sau:
- Về khoa học: Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống quá trình tổ chức thực hiện chính sách ASXH ở tỉnh Điện Biên trong suốt thập niên đầu thành lập tỉnh (2004 - 2014) dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam. Công trình góp phần làm rõ thêm lý luận về chính sách xã hội và an sinh xã hội tại một địa bàn miền núi, biên giới phía Tây Bắc.
- Về thực tiễn: Luận án đã phục dựng bức tranh lịch sử chân thực, khách quan về thực trạng triển khai 6 trụ cột chính sách ASXH tại địa phương; chỉ ra những yếu tố tác động đặc thù về tự nhiên, địa hình, dân số và dân tộc; đánh giá đúng thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; từ đó đúc kết những đặc điểm nổi bật cùng các bài học kinh nghiệm thiết thực cho công tác hoạch định và tổ chức thực thi chính sách ASXH của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Điện Biên.
- Về giải pháp: Đề xuất phương hướng nâng cao hiệu quả các dự án giảm nghèo, hoàn thiện hạ tầng liên xã bảo đảm đi lại 4 mùa, tăng cường hỗ trợ BHYT và BHXH tự nguyện, củng cố hệ thống giáo dục bán trú và dịch vụ y tế tuyến xã cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của công trình: Do giới hạn phạm vi nghiên cứu, luận án chỉ tập trung khảo sát chặng đường 10 năm đầu (2004 - 2014). Nguồn tư liệu lưu trữ thống kê tại một số xã vùng sâu, vùng biên giới còn thiếu đồng bộ, dẫn đến việc tổng hợp chuỗi số liệu của một vài chỉ số xã hội ở cấp cơ sở chưa thật sự liên tục qua từng năm.
Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục mở rộng phạm vi thời gian nghiên cứu giai đoạn từ năm 2015 đến nay, khi tỉnh Điện Biên triển khai chuẩn nghèo đa chiều; mở rộng nghiên cứu chuyên sâu về tác động của chính sách ASXH đối với từng nhóm tộc người đặc thù như dân tộc Mông, Thái, Khơ Mú, Hà Nhì hoặc nghiên cứu so sánh chuyên đề giữa các tỉnh thuộc toàn vùng Tây Bắc.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn phục vụ trực tiếp cho các đối tượng:
- Cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các cơ quan tham mưu chính sách (Sở LĐ-TB&XH, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Dân tộc...) của tỉnh Điện Biên và các tỉnh miền núi phía Bắc trong việc xây dựng, điều chỉnh chính sách an sinh, giảm nghèo bền vững.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xã hội học, Chính sách công và Quản lý phát triển xã hội tham khảo về phương pháp tiếp cận lịch sử địa phương và khung phân tích an sinh xã hội.
- Nội dung đáng tham khảo nhất là Chương 2 và Chương 3, nơi tập hợp hệ thống số liệu thực chứng, các căn cứ lưu trữ và tư liệu khảo sát thực tế về bối cảnh tự nhiên, dân cư, 19 dân tộc và diễn tiến thực thi 6 trụ cột chính sách xã hội tại một tỉnh mới tái lập.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án tiếp cận hệ thống chính sách an sinh xã hội ở tỉnh Điện Biên qua những trụ cột cụ thể nào?
Tác giả tiếp cận chính sách ASXH tại tỉnh Điện Biên trên 6 trụ cột: (1) Xóa đói giảm nghèo; (2) Giải quyết việc làm cho người lao động; (3) Chính sách đối với người có công; (4) Bảo hiểm xã hội; (5) Bảo trợ xã hội; và (6) Bảo đảm các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân.
2. Những yếu tố tự nhiên nào tại Điện Biên gây khó khăn lớn nhất cho việc thực hiện chính sách an sinh xã hội?
Đó là địa hình đồi núi dốc cao (từ 200 m đến hơn 1.000 m), chia cắt mạnh; nằm trên đới đứt gãy Lai Châu - Điện Biên có mật độ dập vỡ vỏ Trái Đất lớn, thường xuyên chịu trượt lở đất, lũ bùn đá, lũ ống và động đất; cùng khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao khắc nghiệt, rét đậm rét hại mùa đông và khô hạn thiếu nước mùa hạ.
3. Những số liệu kinh tế - xã hội quan trọng nào phản ánh thực trạng đời sống người dân Điện Biên trong thời kỳ 2004 - 2014?
Năm 2014, tỉnh Điện Biên xếp thứ 63/63 tỉnh thành về chỉ số PCI; tỷ lệ hộ nghèo ở mức 32,57%; thu nhập bình quân chỉ đạt 851.230 đồng/người/tháng. Khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa nhóm cao nhất và nhóm thấp nhất tăng từ 6,72 lần (năm 2010) lên 8,04 lần (năm 2014). Tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 85% dân số toàn tỉnh (trong đó dân tộc Thái chiếm 38,4%, Mông chiếm 34,8%).
4. Nghiên cứu sinh đã khai thác tư liệu lưu trữ từ những cơ quan nào để thực hiện đề tài?
Tác giả đã thu thập tài liệu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III; Lưu trữ Tỉnh ủy Điện Biên; Lưu trữ UBND tỉnh Điện Biên; Phòng Lưu trữ tỉnh Điện Biên; và hồ sơ chuyên ngành tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài chính, Bảo hiểm xã hội tỉnh, Mặt trận Tổ quốc, Ban Dân tộc và Hội Nông dân tỉnh Điện Biên.
5. Vì sao luận án lại lựa chọn khung thời gian từ năm 2004 đến năm 2014?
Năm 2004 là mốc tỉnh Điện Biên chính thức đi vào hoạt động sau khi được chia tách từ tỉnh Lai Châu theo Nghị quyết của Quốc hội khóa X; năm 2014 là thời điểm tỉnh Điện Biên tiến hành tổng kết tròn 10 năm xây dựng và phát triển, tạo nên một giai đoạn lịch sử hoàn chỉnh để đánh giá quá trình thực thi chính sách.
Kết luận
Luận án tiến sĩ lịch sử của tác giả Nguyễn Thị Thắm đã phục dựng một cách toàn diện và khoa học quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội tại tỉnh Điện Biên giai đoạn 2004 - 2014 dựa trên 6 trụ cột cơ bản. Công trình đã làm rõ mối tương quan giữa điều kiện tự nhiên, địa hình, cơ cấu 19 dân tộc với hiệu quả thực thi các chính sách xóa đói giảm nghèo, việc làm, bảo hiểm, bảo trợ xã hội và dịch vụ cơ bản. Những đúc kết về thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong luận án có giá trị khoa học thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu lịch sử địa phương và hoạch định chính sách xã hội ở vùng Tây Bắc.