CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Vài nét về họ Cúc (Asteraceae) Trong lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida), họ Cúc (Asteraceae hay Compositae) là họ lớn nhất trong lớp này, với hơn 1. Chúng thường tập trung chủ yếu ở đồng cỏ và thảm thực vật trên núi, ít gặp hơn trong các vùng rừng nhiệt đới ẩm với độ cao thấp. Họ Cúc là họ thực vật nổi bật trong số các loài thực vật được sử dụng bởi các dân tộc trong các nền văn hóa bản địa ở tất cả các nơi trên thế giới, đặc biệt là cho các mục đích y học [8]. Các loài thuộc họ Cúc có các đặc điểm: cụm hoa dạng đầu, bao phấn hữu tính, chùm lông trên quả, quả là loại quả bế tạo thành từ một lá noãn và không nẻ ra khi chín [1].
Họ Cúc có chứa các chất chuyển hóa thứ cấp phong phú và đa dạng, sự phát triển của các hợp chất này rất quan trọng trong sự tiến hóa của họ. Nguồn thông tin về các hợp chất này rất có giá trị trong việc phân loại; sự xuất hiện hoặc vắng mặt của các hợp chất hóa học cụ thể hoặc nhóm hợp chất thường biểu thị mối quan hệ phân loại ở phân họ và cấp thấp hơn [8].2 Tổng quan về cây Cỏ nhọ nồi (Eclipta alba) 1.1 Vị trí phân loại của Cỏ nhọ nồi (Eclipta alba) Cây Cỏ nhọ nồi hay còn gọi là cỏ mực, hạn liên thảo và có tên khoa học là Eclipta alba hoặc Eclipta prostrata (L.), thuộc họ Cúc Asteraceae (Compositae) [1], [2]. Theo “Từ điển cây thuốc Việt Nam” của tác giả Võ Văn Chi [1], Cỏ nhọ nồi có vị trí phân loại như sau: Giới Thực vật: Plantae Ngành Ngọc lan: Magnoliophyta Lớp Ngọc lan: Magnoliopsida Phân lớp Cúc: Asteridae Bộ Cúc: Asterales Họ Cúc: Asteraceae Loài: Eclipta alba 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Đặc điểm thực vật của Cỏ nhọ nồi (Eclipta alba) [2] Mô tả: Cây thảo mọc hằng năm, thân cao 10-60 cm, phân nhánh, màu lục, đôi khi hơi đỏ tía, phủ lông cứng. Lá mọc đối, phiến hình ngọn giáo tới bầu dục – thuôn, dài 3-10 cm, rộng 0,5-2,5 cm, mép nguyên hoặc khía răng, có lông tơ dày ở cả hai mặt.
Cụm hoa hình bán cầu, đường kính 1-1,2 cm, trên cuống dài 1,5 mm, ở nách lá hoặc ở ngọn cành. Tổng bao gồm 1 hàng lá bắc hình bầu dục, có lông tơ ở mặt lưng. Đế hoa lồi, rộng 1 cm. Các hoa ở mép là hoa cái có tràng dạng lưỡi nhỏ, màu trắng, đầu có hai thùy; các hoa lưỡng tính ở giữa, hình ống, ở đầu có 4-5 thùy.
Quả bế dẹt, có 3 cạnh màu đen. Cây cỏ nhọ nồi (Eclipta alba) [12] Bộ phận dùng: Phần cây trên mặt đất. Có thể thu hái quanh năm, dùng tươi hay phơi khô. Phân bố: Ra hoa và kết quả từ tháng 3 đến tháng 11.
Mọc hoang ở chỗ ẩm mát ven làng, đồng ruộng từ vùng thấp lên tới độ cao 1800m. Phân bố phổ biến khắp nơi từ Bắc vào Nam và còn phân bố ở các nước nhiệt đới khác thuộc châu Á, châu Phi. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tính vị, quy kinh: Vị ngọt, chua, tính hàn. Quy kinh vào can và thận.
Công dụng: Tư âm bổ thận, lương huyết, bổ huyết, thanh nhiệt giải độc. Thường được sử dụng để trị nôn ra máu, chảy máu cam, tử cung xuất huyết; Viêm gan mạn, viêm ruột, lỵ; Trẻ em suy dinh dưỡng; Ù tai, rụng tóc do đẻ non, suy nhược thần kinh; Nấm da, vết loét, chảy máu, viêm da. Còn dùng làm thuốc trong viêm họng, ban chẩn, lở ngứa, đau mắt, sưng răng, đau dạ dày, bệnh nấm ngoài da gây rụng tóc.3 Thành phần hóa học của Cỏ nhọ nồi (Eclipta alba) Các nghiên cứu khác nhau về thành phần hóa học đã cho thấy cỏ nhọ nồi có chứa nhiều hợp chất hóa học bao gồm coumestans, alkaloids, glycosides, flavonoids, triterpenoids, saponins, lipids, hợp chất polyacetylen, steroids, phytosterol,….Trong lá cây có chứa wedelolactone, demethylwedelolactone, demethylwedelolactone-7- glucoside, stigmasterol và β-terthienylmethanol. Rễ chứa hentriacontanol và heptacosanol [15].
Phần trên mặt đất chứa phytosterol, β-amyrin trong chiết xuất n- hexane và luteolin-7-glucoside, β- glucoside của phytosterol, glucoside của axit triterpenic và wedelolactone [23]. Alkaloid Các nghiên cứu về thành phần hóa học trên Eclipta alba cho thấy sự xuất hiện của các alkaloid như ecliptine và nicotine, và các alkaloid steroid có hoạt tính sinh học verazine, dehydroverazine ecliptalbine. Kader và cộng sự (Đại học Quốc gia Virginia, Hoa Kỳ) đã phân lập từ phần dịch chiết methanol của Eclipta alba được tám hợp chất alkaloid có khung steroid. Alkaloid chính được xác định là (20S,25S)-22,26-iminocholesta-5,22 (N) -dien-3-β-ol (verazine) (1), (20R)-verazine (2) và các alkaloid khác được xác định là 20-epi-3-dehydroxy-3-oxo-5,6-dihydro-4,5 dehydroverazine (3), ecliptalbine [(20R)-20-pyridyl-cholesta-5-ene-3β,23-diol] (4), (20R)-4β-hydroxyverazine (5), 4β-hydroxyverazine (6), (20R)-25β-hydroxyverazine (7) và 25β-hydroxyverazine (8) [4].
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 R1=R2=H 2 R1=R2=H 6 R1=OH, R2=H 5 R1=OH, R2=H 8 R1=H, R2=OH 7 R1=H, R2=OH 3 4 Hình 1. Cấu trúc của các hợp chất Alkaloid b. Coumestan Coumestan là một dẫn xuất của coumarin được tìm thấy trong nhiều loại thực vật. 9 R=CH3 10 R=H 11 R=Glc Hình 1.
Cấu trúc của các hợp chất Coumestan 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Flavonoid và Sterol Các flavonoid được tìm thấy trong cỏ nhỏ nồi là apigenin (12), luteolin (13), luteolin-7-glucoside (14) và quercetin (15). Các sterol hiện diện trong cỏ nhọ nồi là phytosterol, glucoside của phytosterol, daucosterol (16), β-sitosterol (17), stigmasterol (18) và stigmasterol-3-O-glycoside (19) [56]. 12 13 R1=H, R2=H 14 R1=Glc, R2=H 15 R1=H, R2=OH Hình 1.
Cấu trúc của các hợp chất Flavonoid 16 R=Glc 18 R=H 17 R=H 19 R=Glc Hình 1. Cấu trúc của các hợp chất Sterol 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Saponin triterpen Saponin triterpene là eclalbatin (20), cùng với α-amyrin, axit ursolic và axit oleanolic đã được phân lập từ Eclipta alba [34], [53]. Yahara và cộng sự thuộc Đại học Kumamoto, Nhật Bản đã phân lập được eclalbasaponin VII-X (21- 24) [55].
Lee và công sự tại Đại học quốc gia Seoul Hàn Quốc đã phân lập được acid echinocystic (25) và các dẫn xuất glycosid, eclalbasaponin I-III (26-28) và eclalbasaponin V (29) [40]. 25 20 R1=Glc, R2=H, R3=Ara 28 R1=Glc, R2=Glc 26 R1=Glc, R2=OH, R3=Glc 29 R1=SO3H, R2=H 27 R1=Glc, R2=OH, R3=H Hình 1. Cấu trúc của các hợp chất Saponin triterpen 1 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 21 R=H 22 R=H 23 R=SO3H 24 R=SO3 Hình 1. Cấu trúc của các hợp chất Saponin triterpen 2 e.
Dẫn xuất thiophen và polyacetylen Năm 1966, F. Bolhman và cộng sự thuộc Đại học tổng hợp Kỹ thuật Berlin Đức đã phân lập 2 dẫn xuất thiophen (30, 31) và polyacetylen (32) từ lá khô của cỏ nhọ nồi. Krishnaswamy và cộng sự tại Đại học Delhi Ấn Độ đã xác định được cấu trúc của α-terthienyl methanol (33) từ Eclipta alba. Sing và cộng sự tại Đại học tổng hợp Kỹ thuật Berlin Đức đã phân lập từ rễ và phần trên mặt đất của Eclipta alba được một thành phần dithienyl acetylen (34).
Cấu trúc của các dẫn xuất thiophen và polyacetylen 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tinh dầu Các thành phần tinh dầu chính bao gồm heptadecane, 6,10,14-trimethyl-2- pentadecanone, axit n-hexadecanoic, pentadecane, eudesma-4 (14), 11-diene, phytol, octadec-9-enoic axit diisooctylester, (Z, Z) -9,12- octadecadienoic acid, (Z) -7,11- dimethyl-3- methylene-1,6,10-dodecatriene và (Z, Z, Z) -1,5, 9,9-tetramethyl-1,4,7- cycloundecatriene. D-dithienylacetylene ester, ecliptal hoặc α-terthienyl aldehyd, α- terthienyl-metanol và α-formylterthienyl [31].4 Tác dụng sinh học của Cỏ nhọ nồi (Eclipta alba) a. Tác dụng giảm đau, chống viêm Dữ liệu thu được từ các thí nghiệm cho thấy dịch chiết ethanol và alkaloid toàn phần của Eclipta alba có hoạt tính giảm đau tốt khi được dùng với liều 150mg/kg, 250 mg/kg và 500 mg/kg theo đường uống.
Tác dụng giảm đau này có hiệu quả như nhau ở cả cơn đau trung tâm cũng như ngoại biên [47]. Khả năng chống viêm của dịch chiết methanolic của lá cỏ nhọ nồi đã được nghiên cứu trên mô hình gây phù chân chuột bằng carrageenin và lòng trắng trứng. Sử dụng liều 100 và 200 mg/kg dịch chiết methanol của cỏ nhọ nồi bằng đường uống cho thấy hoạt động chống viêm đáng kể trên mô hình gây phù chân chuột bằng carrageenin và lòng trắng trứng được so sánh với indomethacin (10mg/kg) và cyproheptadine (8 mg/kg) [9]. Tác dụng kháng khuẩn, chống nấm Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu tiềm năng chống vi khuẩn của Eclipta alba và đã chỉ ra rằng Eclipta alba có đặc tính kháng khuẩn.
Các nghiên cứu cho thấy rằng các hợp chất thu được từ Eclipta alba cho hoạt động tốt chống lại Staphylococcus aureus, Eclipta Coli, Staphylococcus cholermidis và Salmonella typhimurium [18]. Cỏ nhọ nồi có tác dụng chống lại các chủng nấm: Aspergillus niger, Aspergillus fumigatus, Fusarium solani và Aspergillus flavus. Hoạt tính kháng nấm in vitro của dịch chiết Eclipta alba đã được nghiên cứu chống lại nấm Candida tropicalis, Rhodotorula glutinis và Candida albicans [29]. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Tác dụng bảo vệ gan Dịch chiết ethanol/nước (1:1) của Eclipta alba ức chế tác dụng của CCl4 và điều chỉnh các enzyme chuyển hóa thuốc của microsome gan (amidopyrine-N- demethylase và glucose-6-phosphatase liên kết màng). Nghiên cứu cho thấy rằng hoạt động bảo vệ gan của Eclipta alba là sự điều chỉnh mức độ của các enzyme chuyển hóa thuốc của microsome gan. Các dịch chiết methanol của lá và dịch chiết chloroform của rễ Eclipta alba cho thấy các hoạt động tương ứng làm giảm 72,8% và 47,96% enzyme lysosomal. Từ dịch chiết methanol của lá, triterpenoid eclabasaponin làm giảm 78,78% và alkaloid làm giảm 60,65% lượng CCl4 làm tăng enzyme lysosomal trong máu.
Coumestan và saponin triterpenoid từ dịch chiết chloroform của rễ tương ứng làm giảm 75,6% và 52,41% nồng độ CCl4. Eclipta alba được báo cáo là có tác dụng bảo vệ đối với tổn thương gan cấp tính do CCl4, bằng cách làm giảm hoại tử, thoái hóa của các tế bào nhu mô gan [48], [50]. Tác dụng lên thần kinh và chống độc Các nghiên cứu liên quan đã chỉ ra rằng dịch chiết Eclipta alba với liều 300 mg/kg cho thấy hoạt động của các chất cải thiện khả năng hoạt động của hệ thần kinh ở chuột [51]. Chiết xuất ethyl acetate của Eclipta alba và wedelolactone đã chứng minh hoạt tính chống tăng huyết áp và chống lại nọc độc rắn Malaya Pit Viper [44].
Hoạt tính chống sốt rét của dịch chiết từ lá Eclipta alba đã được đánh giá là chống lại chủng Plasmodium berghei ANKA ở chuột [10]. Hoạt động diều hòa miễn dịch Các nghiên cứu sơ bộ đã cho thấy hoạt động điều hòa miễn dịch của dịch chiết methanol của Eclipta alba. Wedelolactone và demethylwedelolactone, được phân lập từ Eclipta alba đã chứng minh tác dụng ức chế trypsin. Cả hai hợp chất cho thấy hoạt động mạnh mẽ với giá trị IC50 là 2,9 và 3,0 μg/ml, tương ứng.
Eclipta alba có tác dụng bảo vệ các mô thần kinh có thể là do hoạt động điều hòa miễn dịch của Eclipta alba. Do đó, Eclipta alba có thể phục vụ như một bộ điều biến bộ nhớ tiềm năng.