CHƯƠNG 1. TÓNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN củu 1. Thực vật học 1. Chi Chromolaena Là chi thuộc họ Asteraceae, chú yếu là cây thân thảo mọc thành bụi.
Lá thường mọc đối, hình trứng, tam giác hay elip, mép lá chia thùy hoặc không. Cụm hoa dạng tán hoặc dạng ngù, hiếm khi có cụm hoa dạng đầu trên cuống dài. Gồm hơn 165 loài phân bố ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như: [1], [13], [15], [23], [40]. Chromolaena arnottiana (Griseb.; Chromolaena adenolepis (Sch.Bip, ex Baker) R.; Chromolaena barbacensis (Hieron.; Chromolaena decumbens Gardner; Chromolaena latisquamulosa (Hieron.; Chromolaena cyỉindrocephala (Sch.
Loài Chromolaena odorata L. Tên khoa học: Chromolaena odorata L. Tên thường gọi: cỏ Lào, Bóp Bóp, Yên Bạch, Cộng sản [4]. Tên nước ngoài: Siam weed, Devil weed (Anh); Sekou toure, Acheampong, Jabinde, Matapa, Mighbe (Phi); Herbe du Laos (Pháp); Siam kraut (Đức), Sab suea (Thái Lan); Rumput belalang, Rumput putih, Rumput golkar (Indonesia) [40].
Vị trí phân loại trong bảng hệ thong thực vật Theo APG II, vị trí của Chromolaena odorata L. được sắp xếp như sau: Ngành Ngọc Lan (Magnoliophita) Lớp Ngọc Lan (Magnoliosida) Phân lóp Cúc (Asteridae) Bộ Cúc (Asterales) Họ Cúc (Asteraceae) Chi Chromolaena Loài odorata [13], [14], [24], 1 1. Mô tả thực vật Thân cây nhỏ, cao 1-2 m, mọc thành bụi, phân thành nhiều cành ngang. Thân tròn, hình trụ thắng, màu nhạt có rảnh và lông nhỏ mịn.
Lá mọc đối, hình tam giác, dài 6- 9 cm, rộng 2-4 cm, gốc thuôn vát, đầu nhọn, mép có răng cưa, vò ra có mùi hắc, hai mặt lá cùng màu có lông mịn, dày hon ở mặt dưới, gân chính 3, cuống lá dài 1-2 cm. Hoa mọc thành cụm ở đầu cành thành ngù kép, gồm nhiều hoa có mùi thom, tụ hợp thành hình đầu dài khoảng 1 cm, màu vàng lục. Mồi cụm hoa có lá bắc xếp thành 3-4 hàng, có lông, mào lông có sợi đều. Tràng hoa loe dần từ gốc, bao phấn không có tai.
Quả bế, hình thoi, có 5 cạnh, có lông. Mùa hoa quả vào tháng 1-3. Rễ cọc dạng chùm không đều nhau, màu trắng ngà. Xung quanh gốc mọc nhiều tua rề, mồi tua gom một cọng chính mọc nhiều rễ phụ phân nhánh [2].
Đặc điếm hỉnh thái c.Cây ngoài thực địa; B. Cụm phát hoa; F-G. Phát hoa cắt dọc; H. Hoa và nhị lúc non; I-J.
Hoa và nhị lúc trưởng thành. Sinh thải và phân bố Cỏ Lào là loài cây mọc hoang có nguồn gốc từ Nam và Trung Mỹ, nó đã lan rộng khắp vùng nhiệt đới của Châu Á, Châu Phi và Thái Bình Duơng, du nhập vào Đông Nam Á từ những năm 1920 [17], [40]. ớ Việt Nam, Cỏ Lào thường gặp ở nhiều nơi từ các tỉnh đồng bằng đen các miền trung du và vùng đồi núi thấp [3]. Bộ phận dùng Toàn cây, chù yếu là lá, thường dùng tươi [4].
Tổng quan về thành phần hóa học c. odorata được nghiên cứu và phân lập chủ yếu là các flavonoid và tinh dầu, ngoài ra còn có tanin, triterpen, saponin, alkaloid, acid béo, acid amin và muối vô cơ [7], [10], [15], [22], [40]. Flavonoid được phân lập từ c. odorata chủ yếu là các polymethoxy-flavonoid được trình bày trong bảng 1.
Một số flavonoid được phân lập từ Chromolaena odorata L. Khung cấu ~ Họp chất trúc Quercetin: quercetin 7-methylether; quercetin 7,4’-dimethyl -ether; quercetin 3’,4’-dimethylether; quercetin 7’,3’,4’-trimethyl -ether; quercetagetin 6,4’- Flavonol dimethylether; quercetin 3-ơ-rutinosid. Kaempferol: kaempferol 7-methylether; kaempferol 7,4-dimethylether; kaempferol 4’-methylether; kaempferol 3-ơ-glycosid; kaempferol 3-ơ-rutinosid. Sinensetin; salvigenin; scutellarein tetramethylether; acacetin; luteolin; apigenin Flavon 7,4’-dimethylether; eupatilin; 5-hydroxy 6,7,3’,4’-tetramethoxyflavon.
Sakuranetin; isosakuranetin; eriodictyol 7,4’-dimethylether; 5,7-dihydroxy 6,4’- Flavanon dimethoxyflavanon; 5-hydroxy 6,7,4’-trimethoxy - flavanon; 4’,5,6,7 - tetramethoxyflavanon. Flavanonol Aromadendrin; taxifolin 4’-methylether; taxifolin 7-methylether; 2,4-dihydroxy-4 ’,5’,6’-trihydroxy chalcon; 2-hydroxy-4’, 5’,4,6-tetramethoxy- Chalcon chalcon; 2’,4-dihydroxy-4,5,6-trimethoxychalcon; 2’-hydroxy-4,4’,5’,6’- tetramethoxychalcon; 2’-hydroxy-3,4,4’,5’,6’-pentamethoxy-chalcon. 3 R| R2 R< R4 H ch3 OH ch3 Quercetin 7,4’-dimethylether H ch3 OH H Quercetin 7-methylether H H OH ch3 Quercetin 4’-methylether Rut H OH ch3 Quercetin 3-ơ-Rutinosid Flavonol H H H ch3 Kaempferol 4’-methylether Glu H H ch3 Kaempferol 3-ơ-Glucosid Rut H H ch3 Kaempferol 3-ơ-Rutinosid R> R2 Rí OMe OMe OMe Sinensetin OMe OMe H Scutellarein tetramethyl ether OH OMe H Salvigenin R. r2 R3 r4 OH H OH OMe Taxifolin 4’-methylether OH ch3 OH OH Taxifolin 7-methylether OH H H OMe Aromadendrin 4’-methylether H ch3 OH OMe Eriodictyol 7,4’-dimethylether H H H OMe Naringenin 4’-methylether Flavanon và flavanonol R1 r2 OH H 2’,4--dihydroxy 4,5,6-trimethoxychalcon OMe H 2 ’ -hydroxy-4,4 ’ ,5 ’ ,6 ’ -tetramethoxychalcon OMe OMe 2 ’ -hydroxy-3,4,4 ’, 5 ’ ,6 ’ -pentamethoxychalcon Hình 1.
Cấu trúc một số flavonoid từ loài c. Triterpen được phân lập và xác định cấu trúc như: 3/?-hydroxy-28-carboxyolean- 12-en (acid eupatoric), poriferasterol, butyrospermol acetat [36]. Acid eupatoric Poriferasterol Hình 1. Cấu trúc một số triterpen tìr loài c.
4 Diterpen được phân lập và xác định cấu trúc như acid 15-angeloyloxy-16,17- epoxy-19-kauronic [45]. Acid 15-angeloyloxy-16,17-epoxy-19-kauronic Hình 1. Cấu trúc diterpen từ loài c. Alkaloid được phân lập trong c.
chù yếu là các hợp chất thuộc nhóm pyrrolizidin alkaloid như: intermedin, rinderin, 3’-acetylrinderin, 7- angeloylretronecin, 9-angeloyIretronecin,. Intermedin Rinderin 7-angeloylretronecin 9-angeloylretronecin Hình 1. Cấu trúc một số alkaloid từ loài c. Tinh dầu được chiết xuất từ c.
odorata với các cấu tử chính: a-pinen, /?-pinen, pregeijeren, germacren D, geijeren, tríW7s-ocimen,. 5 a - pinen p - pinen íra/75-ocimen Geijeren Pregeijeren Germacren D Hình 1. Cấu trúc một số cấu tứ chính trong tinh dầu c. Acid béo được phân lập từ loài c.
đã được chứng minh đều có khả năng kháng viêm như: acid-(S)-coriolic; acid-(S)-methylcoriolic; acid-(S)-15,16- didehydrocoriolic; acid-(5)-methyl-15,16-didehydrocoriolic; linoleamid và linolenamid [16]. H acid-(S)-coriolic CHí acid-(S)-methylcoriolic H, A15’16 acid-(S),15,16-didehydrocoriolic CH3, A15-16 acid-(S)-methyl-15,16-didehydrocoriolic Linoleamid A15. Cấu trúc một số acid béo từ loài c. Anthraquinon được phân lập và xác định cấu trúc như: 1,2-methylenedioxy-6- methylanthraquinon; 3-hydroxy-1,2,4-trimethoxy-6-methylanthraquinon; 3- hydroxy-1,2-dimethoxy-6-methylanthraquinon [46].
6 l,2-methylenedioxy-6-methylanthraquinon R OMe 3-hydroxy-1,2,4-trimethoxy-6-methylanthraquinon H 3-hydroxy-1,2-dimethoxy-6-methylanthraquinon Hình 1. Cấu trúc một so anthraquinon từ loài c. Chong oxy hóa Năm 2019, Putri và cộng sự đã phân lập ra một ílavanon từ dịch chiết MeOH của lá c., cụ thê là odoratenin. Hoạt động chống oxy hóa cùa odoratenin đã được chứng minh có tác động ức chế 2,2’-azinobis-(3-ethylbenzothiazolin-6- sulfonic acid) (ABTS) rất mạnh với giá trị IC50 là 23,74 pM, thấp hon so với trolox (IC50 là 31,32 pM) là đối chứng dương tính.
Ket quả cho thấy đây là một loại flavanon có tiềm năng như một nguồn chống oxy hóa [37]. Năm 2001, thử nghiệm của Phan Toàn Thắng và cộng sự cho thấy các dịch chiết EtOH từ lá c. có tác dụng chống oxy hóa đối với hydro peroxit và hypoxanthin xanthin oxidase - 2 tác nhân gây ra tổn thương cho nguyên bào sợi và tế bào sừng, ớ nồng độ 800 pg/ml cho thấy tác dụng bảo vệ tế bào tốt nhất, nồng độ 50 pg/ml cũng có tác dụng đáng kế đối với nguyên bào sợi nhưng không có tác dụng đối với tế bào sừng [43]. Rao và cộng sự (2010) báo cáo hoạt động chong oxy hóa in vitro của dịch chiết CHCI3 từ lá c.
Hoạt tính chống oxy hóa được thể hiện bằng cách sử dụng thử nghiệm ABTS. Ket quả cho thấy sự ức chế tốt với giá trị IC50 (1,32 mg/ml) so với acid ascorbic tiêu chuẩn (1,00 mg/ml) [38]. Hoạt tính chống oxy hóa cũng được báo cáo bởi Parameswari và cộng sự thông qua thử nghiệm ABTS từ dịch chiết EtOH của c. Ket quả cho thấy mức độ ức chế hoạt động tốt khoảng 29,92-63,34% [32].
Ngoài ra, hoạt tính chống oxy hóa cũng thu được với phần polysaccharid của c. Làm lành vết thương Nghiên cứu của Phan và cộng sự đà chứng minh được rằng chiết xuất Eupolin làm tăng cường sự phát triển của nguyên bào sợi, tế bào nội mô và tế bào sừng trong quá trình làm lành vết thương. Kích thích sự di chuyển của tế bào sừng, điều hòa sản xuất tế bào sừng cùa protein nền ngoại bào và các thành phần màng đáy, và bảo vệ sự co lại của mạng lưới collagen bởi các nguyên bào sợi [33]. Năm 2013, Pandith và cộng sự báo cáo rằng c.
odorata kích thích quá trình cầm máu và hoạt động chừa lành vết thương bằng cách gây ra sự biểu hiện của gen, bao gồm heme oxygenase-1, thromboxan synthase và chất nền chống kết tụ tiểu cầu metallopeptidase 9 (MM9). Loại cây này có thể thúc đẩy sự di cư và tăng sinh của tế bào nguyên bào sợi. Hơn nữa, họ phát hiện ra rang heme oxygenase-1, enzym làm lành vết thương tăng tốc, được tăng lên ở mức độ phiên mã và dịch mà khi điều trị bằng c. Thromboxane synthase, một chất co mạch, tăng lên và MMP- 9, một chất chống kết tập tiếu cầu, bị giảm khi điều trị bằng c.
Theo nghiên cứu cùa Mahmood và cộng sự vào năm 2005, chuột Sprague-Dawley đực trưởng thành có vết thương ở cố sau được chia thành bốn nhóm để sử dụng nước muối thông thường, mật ong nguyên chất, 90% mật ong kết họp với 10% c. odorata từ dịch chiết nước của lá, và thạch solcoseryl. Họ đã báo cáo lợi ích của mật ong kết họp với chiết xuất này đe kích thích quá trình chữa lành vết thương, giảm sự hình thành sẹo [21]. Năm 2006, đã có nghiên cứu về hiệu quả của dịch chiết EtOH và dịch chiết nước của c.
lên niêm mạc dạ dày được thực hiện trên chuột. Cụ thể 6 nhóm chuột trưởng thành đã được gây loét nhân tạo bằng EtOH 96% và HC1, sau đó điều trị bằng cách kết hợp các dịch chiết với mật ong. Ket quả cho thấy, mật ong kết họp dịch chiết nước có tỳ lệ ức chế cao nhất (72,67%) tiếp theo là mật ong và dịch chiết EtOH (58,92%), mật ong và cimetidin (56,55%) và thấp nhất là mật ong (46,74%). Những kết quả này cho thấy rằng dịch chiết c.
odorata và mật ong có lợi trong điều trị chấn thương niêm mạc dạ dày [20]. Một số nghiên cứu đã chứng minh được rằng sự có mặt của các acid phenolic (acid protocatechuic, p-hydroxybenzoic, p-coumaric, ferulic và vanillic) và hồn họp các flavonoid (flavanon, flavonol, flavon và chalcon) là những chất chống oxy hóa 8 mạnh giúp bảo vệ tế bào da nuôi cấy làm tăng khả năng tái tạo da và làm lành vết thương [34]. Hoạt tính đông máu Năm 2014, Akomas và Ijioma đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc uống c. odorata trên chuột cống trong 14 ngày.
Ket quả cho thấy dịch chiết làm giảm đáng ke thời gian chảy máu từ 4,5 phút ở nhóm đối chứng xuống 3,0 và 2,7 phút. Dịch chiết cũng giảm thời gian đông máu từ 2,6 phút ở nhóm đối chứng xuống 1,8 và 1,5 phút. Thời gian chảy máu và đông máu giảm ở động vật được điều trị bằng dịch chiết c. odorata, cho thấy đặc tính cầm máu tốt, làm giảm thời gian chảy máu và đông máu bằng cách hình thành tiểu cầu và hoạt hóa chúng [6].
Thử nhiệm của Akah cho thấy rằng dịch chiết nước loài c. làm giảm đáng kể thời gian chảy máu ở chuột bạch và chuột lang. Hiệu quả co mạch ở nồng độ từ 1-32 mg. Các cơn co mạch gây ra bởi dịch chiết bị ức chế bởi prazosin nhưng không chịu ảnh hưởng của atropin, propranolol, mepyramin hoặc pimoxid [5].