đặt vấn đề “xây dựng trường chuẩn quốc gia”, nhưng đổi lại họ xây dựng các tiêu chí đánh giá các chương trình giáo dục, đánh giá các hoạt động của giáo viên và học sinh, xếp loại các trường học, đặc biệt là xếp loại các trường đại học. và như vậy, các công trình nghiên cứu và hoạt động này có những liên hệ trực tiếp đến việc chuẩn hóa trong giáo dục. + Hệ thống giáo dục Singapore: Hệ thống giáo dục Singapore được phát triển trên cơ sở mỗi học sinh đều có năng khiếu đặc biệt và sở thích riêng biệt. Hệ thống giáo dục ở đây áp dụng cách tiếp cận linh hoạt để giúp học sinh phát triển hết tài năng của bản thân.
Sự nghiệp giáo dục được xem là yếu tố then chốt cho sự tăng trưởng và phát triển của đất nước Singapore. Bước vào thế kỷ XXI, khi nền kinh tế tri thức là động lực chính cho toàn cộng đồng thì giáo dục lại càng quan trọng hơn trong việc định hình cho tương lai của một quốc gia. Đồng thời thông qua giáo dục mỗi cá nhân có thể nhận biết tiềm năng của mình để góp phần mang lại lợi ích cho cộng đồng, cho đất nước và hướng tới một cuộc sống cá nhân đầy đủ. Giáo dục Singapore hội đủ các tiêu chuẩn sau: - Chuẩn mực giáo dục cao 6 - Môi trường học tập năng động, sáng tạo, được sự hỗ trợ tận tâm của giáo viên - Có thể học chuyển tiếp hay học tại Singapore vẫn lấy được các bằng cấp của Mỹ, Anh, Úc, Canada… - Đội ngũ giáo viên, giảng viên giỏi, có bằng cấp quốc tế và rất nhiệt tâm với học sinh, sinh viên… Thế mạnh của hệ thống giáo dục Singapore nằm trong chính sách sử dụng song ngữ tiếng Anh và tiếng Malaysia, hay Quan Thoại, hay Tamil và một chương trình giảng dạy phong phú, trong đó sự sáng tạo và tính liên kết giữ vai trò chủ đạo.
Tất cả mọi người đòi hỏi phải có những kỹ năng cùng với khả năng tương xứng để tồn tại trong môi trường có tính cạnh tranh cao và trang bị cho một tương lai tươi sáng hơn. Singapore là một quốc gia được xếp hàng đầu trong cả hai lĩnh vực khoa học và toán học tại một nghiên cứu tập trung ở lứa tuổi học sinh lớp 4 (tiểu học) và lớp 8 (trung học) được tiến hành tại 49 quốc gia. Các chương trình học: Ở bậc trung học: Chương trình học ở bậc trung học của Singapore nổi danh trên thế giới về khả năng phát triển cho học sinh lối tư duy sâu và các kỹ năng trí tuệ. Học sinh nước ngoài được chấp nhận theo học chương trình trung học công lập hoặc tư thục và phải thi đầu vào.
Bậc cao đẳng: Các trường cao đẳng đều có các khóa học đa dạng như kinh doanh, công nghệ thông tin, cơ khí, truyền thông đại chúng, thiết kế, viễn thông… Sinh viên tốt nghiệp từ các trường cao đẳng được các nhà tuyển dụng săn tìm, vì họ có thể hòa nhập ngay vào môi trường làm việc nhờ được trang bị kỹ năng thực hành và kinh nghiệm liên quan. Ở bậc đại học: Các trường đại học công lập tại Singapore được đánh giá rất cao trên thế giới. Ngoài ra, Singapore còn có hệ thống các trường đại học quốc tế phong phú giúp sinh viên có nhiều lựa chọn phù hợp cho riêng mình. 7 + Giáo dục nước Anh có chuẩn quốc gia hiệu trưởng trường phổ thông.
Chuẩn quốc gia hiệu trưởng trường học nước Anh phản ánh quan điểm của Chính phủ Anh về phát triển cán bộ quản lý trường phổ thông, về vai trò lãnh đạo trường học trong thế kỷ XXI. Chuẩn này chỉ rõ vai trò quan trọng của hiệu trưởng trong việc thực hiện chính sách giáo dục của Chính phủ và triển khai các chính sách này trong trường học nhằm đạt được mục tiêu phát triển của mọi trẻ em với các nhu cầu, nguyện vọng của chúng. Chuẩn quốc gia hiệu trưởng trường phổ thông được xây dựng trên ba nguyên tắc chính: - Học tập làm trung tâm - Tập trung vào quan hệ lãnh đạo - Phản ánh cao nhất chuẩn nghiệp vụ quản lý trường học. Các thành phần chính của chuẩn quốc gia hiệu trưởng trường phổ thông bao gồm 6 nội dung: - Xác định tầm nhìn và xây dựng kế hoạch chiến lược của nhà trường (hoạch định tương lai - Shaping the future).
- Quản lý việc dạy và học (Leading learning and teaching). - Tự phát triển bản thân và phối hợp công tác (Developing self and working with others). - Quản lý tổ chức (Managing the organization). - Báo cáo kết quả hoạt động của nhà trường (Securing accountability).
- Xây dựng và củng cố mối quan hệ với cộng đồng địa phương (Strengthening community). Trong từng thành phần này có các yêu cầu về kiến thức, chất lượng nghiệp vụ (các kỹ năng, các năng lực quản lý) và các hành động cần thiết để các hiệu trưởng đạt được các nhiệm vụ trọng tâm. Việc đánh giá xếp loại các trường đại học được tiến hành hàng năm đã tạo nên một cuộc cạnh tranh lành mạnh giữa các trường đại học trong từng quốc 8 gia và trên toàn thế giới, để dành lấy vị thế, tạo uy tín nhằm thu hút các nguồn lực cho sự phát triển giáo dục quốc gia, phát triển nhà trường, đồng thời là cách quảng bá có hiệu quản để thu hút sinh viên từ các nước trên thế giới đến học. - Ở trong nước Ngay từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, “Giáo dục phục vụ nhân dân”, trong suốt quá trình cách mạng Đảng và Nhà nước ta luôn vận động nhân dân tham gia xây dựng và phát triển giáo dục.
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng căn dặn ngành giáo dục “Phải xây dựng trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy và trò ra trò”. Thực chất đây là lời mong muốn về một nền giáo dục chuẩn mực, kỷ cương chất lượng tốt để có thể tiến kịp trình độ của các nước tiên tiến trên thế giới. Hiện nay trước sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, các yêu cầu về nhà trường và chất lượng giáo dục cũng thay đổi, cho nên Nhà nước đã có chủ trương chuẩn hóa nền giáo dục nước nhà. Từ năm 2000 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế trường chuẩn quốc gia cho các bậc học mầm non và phổ thông, Quy chế kiểm định chất lượng trường đại học.
từ đây nhiều trường học trong cả nước phấn đấu để đạt chuẩn quốc gia, để nâng cao chất lượng giáo dục, qua đó đã đem lại những đổi thay cho nền giáo dục Việt Nam. Cũng từ những lý do trên, hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về việc xây dựng trường chuẩn quốc gia được đăng tải trên tạp chí khoa học, có các luận án, luận văn thạc sĩ được tiến hành nghiên cứu ở các trường đại học sư phạm, học viện quản lý giáo dục. Trong đó có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau đây: - “Xây dựng trường THCS đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2001-2010” của Hà Thế Truyền đăng trên tạp chí Giáo dục, tác giả đã phân tích mục tiêu, nội dung xây dựng trường chuẩn quốc gia và đề xuất các biện pháp thực hiện. Tác giả cho rằng xây dựng trường THCS đạt chuẩn quốc gia là một chủ trương đúng đắn của nhà nước, nhằm xây dựng nhà trường theo hướng chuẩn hóa, hiện 9 đại hóa, đồng thời đưa hoạt động giáo dục của nhà trường vào trật tự, kỷ cương nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
Để thực hiện các mục tiêu trên, tác giả cho rằng các nhà trường phải làm tốt công tác tuyên truyền sâu rộng trong toàn ngành, trong xã hội và các địa phương phải xây dựng các đề án cụ thể để trình UBND tỉnh, thành phố phê duyệt nhằm đưa công tác này trở thành chủ trương của các cấp chính quyền, trên cơ sở đó sẽ có quy hoạch đất đai và huy động các nguồn lực của địa phương đầu tư cho phát triển trường học. Tác giả kiến nghị các sở GD&ĐT cần chỉ đạo xây dựng một số trường kiểu mẫu ở địa phương kết hợp với chương trình kiên cố hóa trường học để xây dựng trường chuẩn quốc gia. - Với công trình “Chuẩn quốc gia về giáo dục phổ thông - thách thức lớn trong lý luận chương trình dạy học của thế giới ngày nay” tác giả Hồ Viết Lương phân tích mối quan hệ giữa chương trình giáo dục và chuẩn giáo dục quốc gia. Tác giả nhấn mạnh đến việc tăng cường nghiên cứu lý thuyết và kinh nghiệm xây dựng các chương trình giáo dục để đạt chuẩn quốc gia.
Ngoài ra đã có một số luận án tiến sĩ, luận văn cao học bàn về xây dựng trường chuẩn quốc gia như: - “Thực trạng và những giải pháp xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia ở Tây Ninh” luận án tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Dũng, năm 2000. - “Biện pháp QL của hiệu trưởng trong việc xây dựng trường THPT chuẩn QG ở Quảng Ninh”, luận văn thạc sĩ của Đặng Lộc Thọ, năm 2004… - “ Những biện pháp cơ bản xây dựng đội ngũ giáo viên đạt chuẩn quốc gia ở trường THPT Xuân Đỉnh - Hà Nội” luận văn thạc sĩ của Nguyễn Viết Cẩn năm 2004. - “Biện pháp quản lý xây dựng trường chuẩn quốc gia của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang” của Đoàn Văn Ninh, năm 2006. - “Biện pháp quản lý công tác xã hội hoá giáo dục để xây dựng trường THCS đạt chuẩn quốc gia ở Quảng Nam của Nguyễn Hữu Tựu năm 2006.
- “Biện pháp xây dựng trường THCS đạt chuẩn quốc gia ở huyện từ Liêm” của Nguyễn Hữu Hải. 10 Có thể thấy vấn đề quản lý xây dựng trường chuẩn quốc gia đang được nhiều học viên cao học quan tâm nghiên cứu. Các luận văn tập trung vào xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia ở từng địa phương nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông. Một số khái niệm, thuật ngữ có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1.
Chiến lược Chiến lược là sự cụ thể hóa đường lối ở mức độ toàn hệ thống nhằm thực hiện được những mục tiêu đề ra, trong đó cần phải xem xét kỹ mối quan hệ giữa các mục tiêu trong những điều kiện không gian và thời gian nhất định, sắp xếp các mục tiêu theo thứ tự ưu tiên, xác định các mục tiêu có tính khả thi cho từng giai đoạn, định hướng chỉ đạo và có bước đi thích hợp cho việc phân bố nguồn lực, các điều kiện cho các hoạt động; đề ra các giải pháp, huy động nguồn lực để đạt được mục tiêu đề ra.