phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương, 6 tiết e 10 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ TRONG TRƢỜNG HỌC 1. Khái niệm về dân chủ và dân chủ cơ sở. Dân chủ là một giá trị phổ biến, là hiện tượng lịch sử xã hội xuất phát từ thực tiễn sản xuất và sinh hoạt của nhân loại từ thời nguyên thủy. Dân chủ là một khái niệm mang tính lịch sử, phát triển theo tiến trình phát triển và tiến bộ của xã hội.
Dân chủ là thước đo của sự phát triển và tiến bộ xã hội, đang là xu thế của thời đại, của thế giới và cộng đồng xã hội loài người. Trong xã hội nguyên thủy con người đã hợp sức với nhau để chống lại thiên tai, thú dữ, cùng tổ chức những hoạt động mang tính xã hội như cử ra người đứng đầu cộng đồng, bộ lạc để thực thi những công việc chung. Khi của cải dư thừa người đứng đầu cộng đồng biến của cải chung thành của riêng cho mình, xã hội xuất hiện tư hữu, phân chia giai cấp và chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời, giai cấp chủ nô lập ra Nhà nước, lấy tên là Nhà nước dân chủ (ở Athen, Hy lạp cổ đại) tức là Nhà nước chủ nô thống trị đại đa số người lao động đó là giai cấp nô lệ. Như vậy ngay từ thời Hy lạp cổ đại đã xuất hiện khái niệm dân chủ.
Tiếng Hy Lạp gọi “Demos” là dân và “Kratos” là quyền lực. “ Dân chủ” tức là quyền lực thuộc về Nhân dân, Nhân dân có quyền làm chủ những vấn đề liên quan cuộc sống của mình. Theo từ điển Triết học, dân chủ là một trong những hình thức chính quyền với đặc trưng là việc thực hiện nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số và thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của mọi công dân [47, tr. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “Dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận Nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do.
Dân chủ là việc thừa e 11 nhận Nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do” [46, tr. Như vậy, với nghĩa chung nhất, dân chủ để đánh giá mức độ và tính chất của các Nhà nước trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực Nhà nước hoặc tính chất của những xã hội. Dân chủ còn là yếu tố để chỉ cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực. Cho đến nay, khái niệm dân chủ đã có sự mở rộng và phát triển.Theo đó, dân chủ được hiểu là cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực Nhà nước; Nguyên tắc tổ chức và quản lý xã hội là những giá trị đánh giá tính chất Nhà nước, xã hội.
Trong xã hội XHCN, dân chủ có một chất lượng mới, nội dung: "Quyền lực thuộc về Nhân dân" được phát triển đầy đủ trên cơ sở một nền kinh tế phát triển cao, giải phóng sức sản xuất, vượt qua lợi ích, ích kỷ của giai cấp thống trị. Nhờ vậy, dân chủ là yếu tố bảo đảm cho quá trình giải phóng và phát triển toàn diện con người, đem lại cho họ quyền làm chủ cuộc sống, làm chủ chính mình. Hiểu từ góc độ người chiếm đa số là quần chúng Nhân dân còn người chiếm thiểu số là giai cấp thống trị thì Lênin cho rằng: “Dân chủ là sự thống trị của đa số” [57,tr.515;516], “chế độ dân chủ, đó là một nhà nước thừa nhận thiểu số phục tùng đa số” [53,Tr.101], đây chính là sự quyết định của đa số mà thiểu số phải phục tùng quyết định đó. Đồng thời Lênin cũng coi dân chủ là tự do và nhấn mạnh dân chủ là tự do, là bình đẳng, là quyết định của đa số, còn có gì cao hơn tự do, bình đẳng, quyết định của đa số nữa.Mác và Ăngghen cho rằng: “Dân chủ tức là chính quyền của Nhân dân, do Nhân dân tự quy định Nhà nước" [50, tr.
Từ việc Nhân dân tổ chức bầu cử để hình thành bộ máy Nhà nước đến tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước dựa trên nguyên tắc do dân và vì dân. Theo tinh thần đó dân chủ vô sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa trước hết là sự thống trị, làm chủ của giai cấp công nhân, là sản phẩm cuộc cách mạng của số đông, vì lợi ích của số đông làm chủ của giai cấp công nhân đồng thời là sự thống trị của e 12 Nhân dân lao động. Xác định mối quan hệ giữa chế độ dân chủ và nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, Lênin đã viết “chế độ dân chủ và nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số không phải là những chuyện giống hệt như nhau” [53,Tr. Trong chế độ dân chủ, Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước.
Điều đó được thể hiện ở chỗ: Nhân dân tự tổ chức (bầu cử) quyền lực nhà nước; Nhân dân có quyền tham gia quản lý và quyết định những vấn đề quan trọng của Nhà nước; Nhân dân có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước.Tư tưởng này của Mác về sau được Lênin tiếp thu và phát triển trong một điều kiện mới với tư tưởng: "Chủ nghĩa xã hội sẽ không chiến thắng nếu không thực hiện đầy đủ chế độ dân chủ", “Chỉ có giai cấp vô sản mới có thể là người chiến đấu triệt để cho chế độ dân chủ” [54,Tr. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ra đời và phát triển khi có Nhà nước của giai cấp công nhân và Nhân dân lao động được thành lập. Sự hình thành nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đánh dấu bước phát triển mới về chất so với nền dân chủ trước đó như dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản. Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thì: “Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, là quyền làm chủ của nhân dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội của đất nước, dân chủ là một hình thức Nhà nước gắn với giai cấp thống trị, do đó dân chủ luôn mang bản chất giai cấp” [3,Tr.
Về bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ của quảng đại quần chúng nhân dân được thực hiện chủ yếu bằng Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta thống nhất gọi chuyên chính vô sản là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và khẳng định nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ triệt để nhất trong lịch sử và đều này thể hiện xuyên suốt qua các kỳ đại hội của Đảng. Dân chủ được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực và được thông qua hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Dân chủ trực tiếp là một trong những hình thái đầu tiên của dân chủ.
Dân chủ trực tiếp là “hình thức e 13 dân chủ mà qua đó chủ thể quyền lực trực tiếp biểu thị ý chí của mình về những vấn đề cơ bản, chính yếu của tập thể, cộng đồng” [43, tr. Dân chủ đại diện là: “Hình thức dân chủ mà trong đó tập thể, cộng đồng với tính cách là chủ thể quyền lực, biểu thị ý chí của mình một cách gián tiếp thông qua các đại diện có thẩm quyền do chủ thể bầu ra” [43, tr. Dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện đều là hình thức của chế độ dân chủ, có quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau. Dân chủ trực tiếp cho phép phát huy tối đa sự tham gia của Nhân dân vào các công việc chung của đất nước, của địa phương, nhưng lại phụ thuộc vào năng lực nhận thức về dân chủ của mỗi người dân.
Nếu người dân nhận thức không đầy đủ về dân chủ thì họ có thể bị kích động, lôi kéo, phản ánh sai lệch nguyện vọng chính đáng của Nhân dân. Dân chủ đại diện đảm bảo sự tập trung cao trong việc hiện thực hóa quyền làm chủ của Nhân dân, nhưng lại phụ thuộc vào khả năng thực thi chức năng, nhiệm vụ của người đại diện và cơ quan đại diện. Chính vì vậy, cần kết hợp cả hai hình thức dân chủ này nhằm phát huy ưu điểm và khắc phục hạn chế của dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Dân chủ là thước đo của sự tiến bộ xã hội, xã hội có dân chủ thì xã hội mới công bằng, văn minh.
Như vậy, dân chủ sẽ là ước muốn của Nhân dân trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng, vì chỉ có dân chủ thì trong xã hội mới hạn chế được tham ô, tham nhũng, hách dịch, cửa quyền, cậy quyền, cậy chức để làm những việc trái pháp luật. Dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực để chúng ta hướng tới phát triển xã hội. Xã hội càng phát triển thì dân chủ lại càng được đẩy mạnh. Điều này đã được thể hiện rõ nét khi đất nước trong thời kì chiến tranh, ngàn cân treo sợi tóc, đều phải có Nhân dân góp sức, phải dựa vào Nhân dân, Nhân dân là lực lượng chính chống lại quân xâm lược, do đó nước ta đã giành được độc lập.
Giành và giữ đất nước đều là do Nhân dân, vì thế Nhân dân làm chủ đất nước. Ngày nay xây dựng Nhà nước từ trung ương đến địa phương cũng là do dân bầu ra, điều này đã e 14 thể hiện bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tức là làm việc dù có dễ đến mấy mà không có dân thì khó thành công, nhưng nếu việc khó đến mấy nhưng có mặt Nhân dân thì đều giải quyết được hết. Do đó phải dựa vào sức dân và phải thể hiện dân làm chủ, tức là mọi việc bắt đầu từ dân, kết cục cũng vì dân, dân vừa là điểm xuất phát vừa là mục tiêu cuối cùng, là chủ thể của mọi sự phát triển và tiến bộ xã hội.
Theo Hồ Chí Minh, dân chủ không phải là thứ tự nhiên có sẵn mà là thành quả của cách mạng, Nhân dân ta đã phải đấu tranh, hy sinh gian khổ mới giành được. Dân chủ là tài sản quý giá của Nhân dân, là chìa khóa của tiến bộ và phát triển, đồng thời là một giá trị xã hội mang tính toàn nhân loại. Người định nghĩa: Dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ. Người nói: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” [38, tr.
“Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là Nhân dân là người chủ, mà Chính phủ là người đày tớ trung thành của Nhân dân” [39, tr.