Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở CẤP XÃ 1. Tổng quan về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nền dân chủ. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về nền dân chủ Thuật ngữ “ Dân chủ”xuất hiện vào thế kỉ thứ V với cụm từ “ quyền lực của nhân dân” vào khoảng giữa thế kỷ thứ V đến thứ IV trước Công nguyên để chỉ hệ thống chính trị tồn tại ở một số thành bang Hy Lạp.
Theo từ điển Bách khoaViệt Nam thì “Dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do”[54] Từ quan điểm này của Lê-nin cho ta thấy được, các tầng lớp nhân dân muốn thoát khỏi áp bức bóc lột thì chính họ phải được thược hiện quyền làm chủ của mình trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong từng thời kì phát triển cụ thể. Trong xã hội hiện đại nhân dân ở bất kì quốc gia nào, lao động sản xuất ở mọt ngành, lĩnh vực nào cũng cần hiểu được vai trò, trách nhiệm của mình trong thực hiện dân chủ. Đó là quyền mà mỗi công dân có và cần được chính người lao động đó hiểu và phát huy thì mới có được dân chủ trong đời sống xã hội. Từ quan điểm của C.Mác ta thấy được các hình thức nhà nước dân chủ đang tồn tại hiện nay đã thực hiện dân chủ ở mức độ nào và ở góc độ như thế nào.
Người dân sống ở trong Nhà nước đó được thể hiện quyền làm chủ của mình thực tế thông qua các hoạt động cụ thể, là quá trình đấu tranh của chính nhân dân trong hình thái nhà nước mà họ đang sinh sống và kế thừa quan 11 Luan van điểm của C. Lê-nin cũng nhận định rằng quần chúng nhân dân là người làm nên lịch sử chứ không phải những cá nhân anh hùng hoặc thần thánh nào. Nhưng nhà lãnh đạo đươc ghi danh trong lịch sử là người biết cách huy động sức mạnh nội lực từ quần chúng nhân dân. Như vậy, một cá nhân không thể làm lên những chiến thắng mà đó là sự nghiệp của toàn thể nhân dân cùng nhau đứng lên giành chính quyền.
Kế thừa và phát triển tư tưởng của C. Lê- nin nhiều lần khẳng định rằng "chế độ dân chủ" là một hình thức nhà nước, một trong những hình thái của nhà nước. Như vậy, Chế độ dân chủ cùng hình thái nhà nước cùng song song tồn tại, nếu hình thái nhà nước dân chủ mất đi thì chế độ dân chủ cũng mất theo. Lê-nin so sánh với các hình thức nhà nước trong lịch sử, kể cả nhà nước của giai cấp tư sản, so sánh các chế độ nhà nước khác nhau, kể cả chế độ đại nghị thì ông đánh giá cao tính chất tiến bộ của các hình thức nhà nước về mặt lịch sử, V.
Lê-nin cũng như C.Mác cho rằng Công xã Pa-ri là hình thức nhà nước dân chủ nhất "cuối cùng cũng đã được tìm ra". Mô hình nhà nước đó sau này được áp dụng trong Cách mạng 1905 - 1907 và Cách mạng Tháng Mười Nga, gọi là các Xô-viết công - nông - binh. Lê-nin cho rằng, Xô-viết, tựu trung là một hình thức và một kiểu chế độ dân chủ vô cùng cao hơn, chính là vì do chỗ nó tập hợp được quần chúng công nông và lôi cuốn họ tham gia sinh hoạt chính trị, nên đó là cơ quan gần dân nhất. Theo những phác thảo ban đầu về một nhà nước Cộng hòa Xô-viết, nhân dân trực tiếp tham gia vào công việc của nhà nước thông qua các Xô- viết.
Ở trong các Xô-viết nhân dân tự quyết định luật lệ, tự thi hành các luật lệ đó và tự xét xử những ai vi phạm luật lệ của Xô-viết. Để có một nhà nước như vậy, V.Lê-nin cho rằng: "Cần xây dựng ngay chế độ dân chủ, bắt đầu từ cơ 12 Luan van sở, dựa vào sáng kiến của bản thân quần chúng, với sự tham gia thực sự của quần chúng vào tất cả đời sống của nhà nước, không có "sự giám sát" từ trên, không có quan lại. Theo mô hình phác thảo này thì các cấp trên của cơ sở sẽ là đại biểu các Xô-viết cho đến Xô-viết tối cao. Mô hình này được xây dựng trong thực tiễn sau thắng lợi của Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga năm 1917.
Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng: Nhà nước là công cụ chuyên chính của một giai cấp, nó ra đời không phải để điều hoà mâu thuẫn giai cấp mà do mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức mà thông qua đó, Đảng của giai cấp công nhân thực hiện vai trò lãnh đạo của mình đối với toàn xã hội; là một tổ chức chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng dựa trên cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội; là nhà nước kiểu mới, thay thế cho nhà nước tư sản, nhờ kết quả của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa; là hình thức chuyên chính vô sản được thực hiện trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.Nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức cơ bản nhất của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hóa xã hội của nhân dân, được thực hiện thông qua hai chức năng chủ yếu là chức năng thống trị giai cấp và chức năng xã hội. Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử đấu tranh giành chính quyền của nhân dân lao động. Nhà nước xã hội chủ nghĩa do giai cấp công nhân lãnh đạo thông qua Đảng cộng sản trở thành nhà nước đầu tiên thực hiện quyền lực của nhân dân – chính quyền Xô viết.
Theo Lê-nin thì những giá trị của dân chủ cần được giai cấp công nhân hiểu và vận dụng để thực hiện sứ mệnh của mình, mà trước hết là để xây dựng một chính đảng của giai cấp công nhân. "Sự cần thiết phải xây dựng đảng 13 Luan van cộng sản theo nguyên tắc dân chủ bắt nguồn trước hết từ vai trò quyết định của giai cấp công nhân và quần chúng lao động trong sự sáng tạo lịch sử. Theo quan điểm này của Lê-nin về mặt lý luận cũng như thực tiễn vai trò của đảng viên của Đảng cộng sản với tư cách là người gắn bó, tuyên truyền các chủ trương, chính sách mà Đảng cầm quyền xây dựng đồng thời là cầu nối giữa Đảng với nhân nhân, phản ánh tâm tư nguyện vọng của người dân đến Đảng cầm quyền giải quyết. Chính đội ngũ đảng viên, thông qua phong trào quần chúng và những nhiệm vụ cụ thể trong quá trình thực hiện cương lĩnh của đảng mà phát hiện, giới thiệu cho đảng những đảng viên ưu tú, có năng lực, vào các cơ quan lãnh đạo của đảng.
Nguyên tắc dân chủ còn bao hàm việc hình thành các cơ quan lãnh đạo của đảng phải thông qua bầu cử dân chủ trong đảng; quyền bãi miễn các chức vụ do bầu cử lập ra, hệ thống các cơ quan lãnh đạo phải được bầu từ cấp ủy cho đến Ban chấp hành Trung ương Đảng; quyền quyết định tối cao là quyền của đại hội đảng; các cơ quan lãnh đạo của đảng phải thường xuyên báo cáo công tác trước đảng viên, các đảng viên bình đẳng trước điều lệ đảng. Như vậy, nguyên tắc dân chủ trong hoạt động của tổ chức, của nhà nước được hình thành trên cơ sở những giá trị dân chủ mà nhân loại đã đạt được trong lịch sử phát triển của mình. Từ cổ đại cho đến ngày nay “dân chủ” đã biến đổi khách quan phù hợp với thực tiễn từng thời kì lịch sử của từng quốc gia vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin là khác nhau. Song việc thực hiện dân chủ trong đời sống xã hội để xây dựng xã hội chủ nghĩa là cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ của chính nhân dân lao động.
Một nhà nước XHCN chỉ được hình thành khi tất cả người dân đều hiểu và vận dụng phù hợp với điều kiện thức tế ở chính địa phương, quốc gia mình. Chỉ có “ dân chủ xã hội chủ nghĩa” mới thể hiện đúng bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nền dân chủ chủ nghĩa xã hội Từ trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam ta thấy các cuộc khởi nghĩa thắng lợi, các trận đánh khiến cho quân giặc khiếp sợ nguyên nhân không chỉ là do có tướng tài mà cốt lõi là họ có được sự ủng hộ từ nhân dân. Khúc Hạo là người đầu tiên đặt nền móng cho nền tự chủ với chủ trương” chính sự cốt khoan dung, giản dị, nhân dân được yên vui”.
Đây là một chính sách được đánh giá là chính sách thân dân và cố kết toàn dân. Cho đến các triều đại kế tiếp những vị vua chú trọng xây dựng đất nước, các trận đánh chống giặc ngọai xâm ta không thể phủ nhận vai trò của nhân dân. Đó là sức mạnh đoàn kết dân tộc mà nhân dân Việt Nam trước sự xâm lược của kẻ thù. Cuộc chiến đấu chống lại các đế quốc hùng mạnh của nhân dân Việt Nam ở thế kỉ 19 được gọi là “chiến tranh nhân dân”.
Đó là cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, quyền tự chủ dân tộc Việt Nam. Và từ cuộc chiến ấy đã có Đảng cộng sản Việt Nam ra đời để lãnh đạo toàn thể nhân dân Việt Nam chống lại giặc ngoại xâm, chống lại chế độ phong kiến để xây dựng xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh là người đặt nền móng cho xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa – một nhà nước “ của dân, do dân, vì dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người lĩnh hội học thuyết chủ nghĩa Mác – Lê-nin và vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam sao cho phù hợp nhất.
Dân chủ theo cách dễ hiểu nhất, dân dã nhất Người nói rằng - "Dân chủ là làm sao cho dân mở miệng, đừng để dân sợ không dám mở miệng, nhưng còn nguy hại hơn là khi người dân khôngthiếtmởmiệngnữa." Người nhấn mạnh: “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ”, “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ”, “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”. Trong tác phẩm Thường thức chính trị viết năm 1953, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ở nước ta chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ. Nhân dân là ông 15 Luan van chủ nắm chính quyền.