Chương 1 KHÁI LUẬN VỀ QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ 1. Dân chủ cơ sở và quy chế dân chủ ở cơ sở Khái niệm dân chủ Thuật ngữ dân chủ ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VII-VI trước công nguyên. Xét về mặt ngữ nghĩa, “dân chủ (demokratia), trong tiếng Hy Lạp cổ là từ ghép, được cấu thành từ hai từ gốc là: demos = nhân dân và kratein - cai trị. Nếu dịch sát nghĩa thì demokraitia sẽ là một mệnh đề hoàn chỉnh: nhân dân cai trị.
Sau này các nhà chính trị học đã xác định thực chất của dân chủ là: “tất cả quyền lực thuộc về nhân dân” [21, tr. Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin, quần chúng nhân dân là người sản xuất ra mọi của cải vật chất, sáng tạo ra những giá trị tinh thần vô giá, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội, là lực lượng nòng cốt của mọi cuộc cách mạng xã hội. Xuất phát từ bản chất, chế độ dân chủ tư sản không giành cho số đông, một nền dân chủ không phải ai cũng hưởng thụ được, dân chủ dành cho giai cấp hữu sản, quy định quyền lực thuộc về nhân dân nhưng thực chất chỉ là khẩu hiệu hình thức. Dưới chế độ dân chủ tư bản chủ nghĩa, sự tha hóa của con người trong đó sự tha hóa về quyền lực, đặc biệt là sự tha hóa về quyền lực chính trị là tất yếu và diễn ra phổ biến ở các nước tư bản chủ nghĩa.
Như vậy trong xã hội có giai cấp đối kháng luôn chứa đựng sự thống nhất có tính mâu thuẫn, đó cũng là nguyên nhân dẫn tới cách mạng xã hội nhằm giải quyết mâu thuẫn bằng việc thiết lập một chế độ dân chủ mới - chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa.Mác nền dân chủ tư sản là nền dân chủ được xây dựng trên cơ sở tước đoạt quyền dân chủ của quần chúng nhân dân vì quyền lực và lợi ích của giai cấp tư sản. 8 Chế độ dân chủ vô sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa hình thành và phát triển biện chứng, nó kế thừa những giá trị của nhân loại, tiếp thu những thành tựu của dân chủ tư sản. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được hình thành và phát triển trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, khác với cơ sở của nền dân chủ tư sản là chế độ sở hữu tư nhân. Đây là hình thức phát triển cao của dân chủ, trong đó thực tế quyền lực thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Quyền lực đó được thực hiện thông qua Nhà nước và các tổ chức xã hội dưới sự lãnh đạo của chính đảng của giai cấp công nhân. Trong dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền công dân và quyền con người được bảo đảm về mặt pháp lý và được bảo đảm trên thực tế. Xét về quy mô, dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ rộng rãi, thể hiện trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, bảo vệ quyền lợi của đa số quần chúng nhân dân lao động. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mang bản chất của giai cấp công nhân, nó kế thừa và phát huy những giá trị nhân đạo của các nền dân chủ trước đó thành những giá trị hiện thực dành cho đông đảo các tầng lớp nhân dân lao động.
Tính ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thể hiện: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ dành cho số đông, là sự đảm bảo quyền và lợi ích của nhân dân lao động, do giai cấp công nhân đại diện. Đông đảo quần chúng nhân dân được giải phóng, được tự do về mọi mặt, chế độ nhà nước thống nhất với chế độ dân chủ. Đảng Cộng sản cầm quyền và thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Nguyên tắc tập trung dân chủ xuất hiện trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đây vừa là nguyên tắc lãnh đạo của Đảng Cộng sản, vừa là nguyên tắc và cơ chế trong quản lý, điều hành của Nhà nước xã hội chủ nghĩa nhằm bảm đảm quyền làm của của nhân dân lao động.
Điều đó chứng tỏ trình độ dân chủ gắn liền với sự phát triển, tiến bộ của xã hội loài người, được biểu hiện qua sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Dân chủ được hình thành và phát triển không ngừng, là 9 một nguyên tắc đồng thời là phương pháp quản lý nhà nước và xã hội, là thước đo mức độ giải phóng con người. Có thể thấy dân chủ là một khái niệm có tính chất lịch sử, có sự vận động và biến đổi theo sự phát triển khách quan của đời sống xã hội. Thông qua quá trình đấu tranh xã hội lâu dài vì sự tiến bộ của xã hội, dân chủ vừa là động lực, vừa là mục đích vươn tới của xã hội loài người.
Như vậy quan niệm về dân chủ cho đến nay còn khác nhau, phụ thuộc vào giai cấp, dân tộc, tôn giáo, tập quán xã hội, truyền thống văn hóa và chính trị. Nhưng nhìn chung dân chủ là quyền làm chủ của nhân dân đối với quyền lực nhà nước, là dân làm chủ. Dân chủ cơ sở: là việc người dân thực hiện quyền làm chủ của mình ở cơ sở (ở cấp xã, phường đến tận thôn, xóm, đơn vị, cơ quan, nhà máy, xí nghiệp) theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Khi nói dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra là nói đến các quyền cụ thể của người dân và các quyền làm chủ cụ thể của người dân được thực hiện chủ yếu ở cơ sở, vì cơ sở là nơi đại bộ phận nhân dân sinh sống, học tập, lao động, công tác; cơ sở cũng là nơi xuất hiện các nhu cầu, lợi ích thiết thân của cộng đồng; nơi trực tiếp thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; nơi thực hiện quyền làm chủ của người dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất.
Dân chủ cơ sở là việc chủ thể quyền lực thực hiện quyền làm chủ của mình trong việc tham gia bàn bạc, quyết định những công việc chung ở cơ sở; dân chủ cơ sở được biểu hiện thông qua hai hình thức: dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Dân chủ trực tiếp là phương thức dân chủ ra đời từ thời kỳ sơ khai của xã hội loài người, thời kỳ bộ lạc, thị tộc. Dân chủ trực tiếp là cách thức mà người dân có thể trực tiếp biểu thị ý chí của mình về một vấn đề gì đó. Mỗi 10 người dân đều có thể trực tiếp tham gia bàn bạc, giải quyết các vấn đề chung của đất nước, tập thể, cộng đồng như về lập pháp, hành pháp, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội… Có 3 yếu tố cấu thành hình thức dân chủ trực tiếp, đó là phổ thông đại chúng, trực tiếp và hiệu lực thi hành.
Để dân chủ trực tiếp mang lại hiệu quả thì cần phải có các điều kiện như: thông tin đầy đủ về các vấn đề cần quyết định; tổ chức bàn bạc thấu đáo trước khi quyết định, bảo đảm môi trường xã hội lành mạnh, tự do, bình đẳng; bảo đảm trình tự, thủ tục đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện. Những hình thức dân chủ trực tiếp thường thể hiện qua việc trưng cầu dân ý, thực hiện sáng kiến pháp luật, bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng và nghề nghiệp, các hình thức công dân tham gia trực tiếp các hoạt động sản xuất kinh doanh, quyết định những vấn đề tự quản ở cộng đồng dân cư. Việc thực hiện dân chủ trực tiếp phụ thuộc vào trình độ phát triển của kinh tế, xã hội, trình độ dân trí và trình độ chính trị. Dân chủ đại diện là hình thức phát triển và phổ biến nhất, ra đời trong lòng chế độ quân chủ, chế độ đại nghị tư sản, nó trở thành một công cụ đấu tranh hữu hiệu chống lại chế độ phong kiến.
Hình thức này tuy không trực tiếp thực hiện ý chí của mình nhưng chủ thể quyền lực có quyền và chức năng giám sát, kiểm tra hoạt động của cơ quan đại diện. Ngày nay ở các nước phát triển trên thế giới, hình thức dân chủ đại diện được sử dụng là chủ yếu, nhưng hình thức dân chủ trực tiếp vẫn được sử dụng với những vấn đề trọng đại của quốc gia, dân tộc. “Quy chế dân chủ ở cơ sở là những văn bản pháp lý, yêu cầu mọi người, mọi tổ chức đều phải nghiêm chỉnh thực hiện những điều quy định về quyền dân chủ và phát huy quyền tự do, bình đẳng của nhân dân, để nhân dân theo đó mà thực hiện trong những hoạt động của mình ở cơ sở” [32, tr. 11 Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở: là một tập hợp các hành động có tổ chức và có hướng đích để đưa quy chế dân chủ cơ sở vào thực tế hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị và địa phương.
Cơ sở xã, phường, cơ quan, doanh nghiệp, trường học… là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; là địa bàn nhân dân sinh sống, lao động, sản xuất, học tập và công tác; là nơi diễn ra các mối quan hệ nhiều mặt giữa nhân dân với các cấp ủy đảng và chính quyền vì vậy nhân dân cần được biết, được bàn và được tham gia giải quyết những vấn đề đặt ra ở cơ sở, đồng thời có yêu cầu kiểm tra, giám sát hoạt động hàng ngày của cấp ủy, chính quyền và cán bộ lãnh đạo. Như vậy, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở là việc triển khai quy chế dân chủ ở từng cơ quan, đơn vị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, đảm bảo quyền lợi chính trị thiết thực cho người dân và người lao động. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới và là nhà tư tưởng lớn của cách mạng Việt Nam. Một trong những giá trị văn hóa đáng tự hào, đáng trân trọng của Người là tư tưởng dân chủ và văn hóa dân chủ, đó là một giá trị to lớn và đặc sắc trong toàn bộ di sản văn hóa và tinh thần của Hồ Chí Minh.
Cuộc đấu tranh của Người cho dân chủ bắt đầu từ rất sớm. Người luôn dũng cảm đấu tranh cho quyền dân chủ không riêng cho người Việt Nam và Đông Dương mà cho tất cả những ai bị thực dân, tư bản, phong kiến chà đạp quyền dân chủ, dù ở Mỹ, ở châu Phi, ở Trung Hoa hay Ấn Độ.