CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN 1. Cơ sở lý luận về xây dựng chiến lược phát triển tổ chức 1.1 Khái niệm, vai trò, đặc trưng của chiến lược phát triển tổ chức 1. Khái niệm chiến lược “Chiến lược bao gồm những mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động, phân bổ nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”. [Alfred Chandler] “Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp, được thiết kế đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của tổ chức sẽ được thực hiện”.
Glueck] “ Chiến lược của doanh nghiệp là nhằm phác họa những quĩ đạo tiến triển đủ vững chắc và lâu dài, chung quanh quĩ đạo đó có thể sắp xếp những quyết định và những hành động chính xác của doanh nghiệp”. [Alain Charlec Martinet] “Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh”. Porter] Nhìn chung các quan niệm trên về thuật ngữ chiến lược đều bao hàm và phản ánh các vấn đề sau: Mục tiêu của chiến lược, thời gian thực hiện, quá trình ra quyết định chiến lược, nhân tố môi trường cạnh tranh, lợi thế và yếu điểm của tổ chức nói chung và theo từng hoạt động nói riêng. Khái niệm về quản trị chiến lược Quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức; đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định để đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như tương lai nhằm tăng thế lực cho tổ chức.
Khái niệm trên đây xác định những tiến trình của quản trị chiến lược bao gồm 3 giai đoạn sau: - Giai đoạn hoạch định chiến lược: là quá trình phân tích môi trường chiến lược bên trong và bên ngoài tổ chức, dự báo tương lai và xây dựng những chiến lược phù hợp với các điều kiện của tổ chức. 6 - Giai đoạn thực hiện chiến lược: là quá trình triển khai các mục tiêu chiến lược vào hoạt động của tổ chức. Đây là giai đoạn khó khăn và phức tạp, đòi hỏi một nghệ thuật quản lý cao. - Giai đoạn đánh giá kết quả, tìm các giải pháp để thích nghi chiến lược với hoàn cảnh và môi trường của tổ chức c.
Khái niệm hoạch định chiến lược Hiện nay tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về công tác hoạch định chiến lược như: Theo Anthony: “Hoạch định chiến lược là một quá trình quyết định các mục tiêu của doanh nghiệp, về những thay đổi trong các mục tiêu về sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu, các chính sách để quản lý thành quả hiện tại, sử dụng và sắp xếp các nguồn lực”. Theo Denning: “Hoạch định chiến lược là xác định tình thế kinh doanh trong tương lai có liên quan đặc biệt tới tình trạng sản phẩm - thị trường, khả năng sinh lợi, quy mô, tốc độ đổi mới, mối quan hệ với lãnh đạo, người lao động và công việc kinh doanh”. Như vậy mỗi tác giả có cách diễn đạt quan điểm khác nhau về hoạch định chiến lược nhưng nhìn chung đều có ý nghĩa thống nhất và nó được hiểu một cách đơn giản như sau: Hoạch định chiến lược là việc xác định các mục tiêu của tổ chức và các phương pháp được sử dụng để thực hiện mục tiêu đó.2 Vai trò của chiến lược - Chiến lược trước tiên đóng góp một cách gián tiếp vào việc tạo ra lợi nhuận cho tổ chức thông qua việc khai thác cơ hội và giành ưu thế trong cạnh tranh. - Chiến lược giúp cho tổ chức thấy rõ mục đích và hướng đi của mình.
- Chiến lược sẽ giúp cho tổ chức nắm bắt và tận dụng cơ hội có biện pháp chủ động đối phó với nguy cơ và các mối đe dọa để đưa ra được cách quyết định phù hợp các dự báo điều kiện môi trường nhằm giảm bớt rủi ro cũng như đạt được kết quả tốt hơn. - Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực - Tạo ra căn cứ vững chắc cho tổ chức đề ra các quyết định phù hợp. - Vai trò chiến lược nói chung rất quan trọng, việc lập chiến lược cũng mất 7 nhiều thời gian và công sức song tổ chức sẽ được bù đắp nhiều lợi ích hơn. Và cũng sẽ rất sai lầm nếu chiến lược được lập một cách vội vã, cứng nhắc với các số liệu doanh số tiên đoán buộc phải đạt tới.
- Đối với ngành y tế, chiến lược giúp các cơ sở y tế nhất là các bệnh viện đáp ứng được tối đa nhu cầu y tế của nhân dân, nâng cao trình độ khả năng điều trị trong điều kiện hạn hẹp nhất cũng như tự đảm bảo được đời sống của nhân viên y bác sỹ. - Hiện nay các bệnh viện công lập đang chuyển hướng sang hạch toán tự chủ theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ, do đó việc xây dựng chiến lược và quản lý chiến lược rất cần thiết trong các bệnh viện, nó giúp cho các bệnh viện thấy được những điểm mạnh yếu và khả năng ứng phó của bệnh viện đối với môi trường để đưa ra quyết định đúng trong hiện tại và tương lai. - Trước mắt một chiến lược tốt hiện nay sẽ giúp cho các bệnh viện làm tốt việc khám chữa bệnh hiện đang quá tải, nhằm thực hiện tốt nhất mục tiêu ngành y tế trong điều kiện hạn hẹp nhất về kinh phí cũng như giúp cho bệnh viện an tâm trong tự chủ, tự quyết định và chịu trách nhiệm trong giai đoạn chuyển đổi này.3 Đặc trưng của chiến lược Trong phạm vi chiến lược phát triển của tổ chức các đặc trưng được quan niệm tương đối đồng nhất, bao gồm: - Chiến lược xác định các mục tiêu và phương hướng phát triển của tổ chức trong thời kỳ tương đối dài (3 năm, 5 năm, 10 năm…). Chính các mục tiêu và phương hướng dài hạn đó bảo đảm cho hoạt động kinh doanh của tổ chức phát triển liên tục và vững chắc trong môi trường kinh doanh đầy biến động của cơ chế thị trường.
- Chiến lược được xây dựng trên cơ sở các lợi thế cạnh tranh để đảm bảo huy động tối đa và kết hợp tốt với việc khai thác và sử dụng các nguồn lực của tổ chức hiện tại và tương lai nhằm phát huy những lợi thế, nắm bắt cơ hội để dành ưu thế trong cạnh tranh. - Chiến lược được phản ánh trong cả một quá trình liên tục từ xây dựng đến tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh chiến lược. - Chiến lược luôn mang tư tưởng tiến công giành thắng lợi trong cạnh tranh - Chiến lược chỉ phác thảo các phương hướng dài hạn, có tính định hướng. Chiến lược là xây dựng phác thảo cho các hoạt động dài hạn của tổ chức trong 8 tương lai dựa trên cơ sở là các thông tin thu thập được qua quá trình phân tích và dự báo.
Do vậy, sự sai lệch giữa các mục tiêu định hướng và xây dựng chiến lược phác thảo ban đầu với tình hình hoạt động sẽ diễn ra trong thực tế là chắc chắn sẽ có. Soát xét tính hợp lý và điều chỉnh các mục tiêu ban đầu cho phù hợp với các biến động của môi trường và điều kiện hoạt động đã thay đổi phải là việc làm thường xuyên của các tổ chức trong quá trình tổ chức hoạt động. - Mọi quyết định chiến lược quan trọng trong quá trình xây dựng chiến lược, tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh chiến lược đều phải được tập trung về người lãnh đạo cao nhất của tổ chức. Đặc trưng nhằm đảm bảo tính chuẩn xác của quyết định dài hạn, sự bí mật thông tin trong cạnh tranh.
- Chiến lược luôn được xây dựng, lựa chọn và thực thi dựa trên cơ sở các lợi thế so sánh của tổ chức. Điều này đòi hỏi tổ chức phải đánh giá đúng thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình khi xây dựng chiến lược và thường xuyên soát xét các yếu tố nội tại khi thực thi chiến lược. - Chiến lược trước hết và chủ yếu được xây dựng cho các ngành nghề kinh doanh, các hình thức kinh doanh chuyên môn hóa, truyền thống, thế mạnh của tổ chức. Điều đó đặt tổ chức vào thế phải xây dựng, lựa chọn, thực thi cũng như tham gia kinh doanh trên những thị trường đã có chuẩn bị và có thế mạnh.
2 Các cấp độ và các loại chiến lược 1. Các cấp độ chiến lược Tầm quan trọng của chiến lược là điều không thể phủ nhận và câu hỏi cần đặt ra là: làm sao phân biệt được sự khác nhau giữa một chiến lược tốt và một chiến lược xấu. Chiến lược có thể được xây dựng trên ba cấp độ khác nhau: chiến lược cấp tổ chức, chiến lược cấp đơn vị kinh doanh, và chiến lược cấp bộ phận chức năng. Chiến lược cấp tổ chức Chiến lược cấp tổ chức (chiến lược tổng thể/chiến lược chung) hướng tới các mục tiêu cơ bản dài hạn trong phạm vi của cả tổ chức.
Ở cấp này, chiến lược phải trả lời được các câu hỏi: Các hoạt động nào có thể giúp tổ chức đạt được khả năng sinh lời cực đại, giúp tổ chức tồn tại và phát triển?. Theo đó trong tương lai tổ chức có thể phát triển dựa trên các hoạt động kinh doanh hiện tại, hoặc mở rộng thêm 9 hoạt động kinh doanh mới, hoặc có thể phải thu hẹp lại. Vì vậy có vô số chiến lược ở cấp tổ chức với những tên gọi khác nhau, mỗi tác giả có thể phân loại, gọi tên theo cách riêng của mình. Chiến lược cấp tổ chức có thể phân thành các loại cơ bản: Chiến lược tăng trưởng tập trung, chiến lược tăng trưởng bằng con đường hội nhập, chiến lược tăng trưởng đa dạng hóa, chiến lược suy giảm, chiến lược hỗn hợp.
Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh (gọi tắt là chiến lược kinh doanh) liên quan đến cách thức cạnh tranh thành công trên các thị trường cụ thể. Chiến lược kinh doanh bao gồm cách thức cạnh tranh mà tổ chức lựa chọn, cách thức tổ chức định vị trên thị trường để đạt được lợi thế cạnh tranh và các chiến lược định khác nhau có thể sử dụng trong bối cảnh cụ thể của mỗi ngành. Theo Michael Porter có ba chiến lược cạnh tranh tổng quát là chiến lược dẫn đầu nhờ phí thấp, chiến lược khác biệt hóa và chiến lược tập trung.