CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ 1.1 Một số khái niệm 1. Chiến lược Khái niệm chiến lược là một từ có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự, đó là phương cách để chiến thắng trong một cuộc chiến tranh. Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu chiến lược là chương trình hành động, kế hoạch hành động được thiết kế để đạt được một mục tiêu cụ thể, là tổ hợp các mục tiêu dài hạn và các biện pháp, các cách thức, con đường đạt đến các mục tiêu đó. Trong quân sự, chiến lược khác với chiến thuật, chiến thuật đề cập đến việc tiến hành một trận đánh, trong khi chiến lược đề cập đến việc làm thế nào để liên kết các trận đánh với nhau.
Nghĩa là cần phải phối hợp các trận đánh để đi đến mục tiêu quân sự cuối cùng. Nguồn nhân lực Theo cách hiểu thông thường, nguồn nhân lực là nguồn lực con người của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ, một địa phương nhất định đang và có khả năng tham gia vào quá trình phát triển xã hội. Beng, Fischer & Dornhusch, 1995 cho rằng nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai. Nguồn nhân lực, theo GS.
Phạm Minh Hạc [27, tr.269] là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó. Theo tác giả Nguyễn Trọng Điều trong cuốn “Quản lý nhân lực”, nguồn nhân lực được hiểu như khái niệm "nguồn lực con người". Khi được sử dụng như một công cụ điều hành, thực thi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và có nhu cầu lao động. Bộ phận của nguồn lao động gồm toàn bộ những người trong độ 4 tuổi lao động trở lên có khả năng và nhu cầu lao động được gọi là lực lượng lao động.
Ở các tổ chức trong thời gian qua việc tận dụng và sử dụng nguồn nhân lực chủ yếu là về mặt thể lực còn về, mặt trí lực vẫn còn mới mẻ, chưa phát huy được mặt mạnh của trí lực. Hiện nay, việc sử dụng và phát triển tiềm năng của mặt trí lực đang ngày càng được coi trọng. Sự thành công hay thất bại của nhiêu tổ chức đã chỉ ra rằng nguồn lực quan trọng nhất của tổ chức là nhân lực. Nguồn nhân lực của tổ chức bao gồm tất cả mọi cá nhân tham gia bất cứ hoạt động nào với bất cứ vai trò nào trong tổ chức.
Quy mô và cơ cấu của bộ phận nguồn nhân lực của một tổ chức được quyết định tùy thuộc vào lượng thông tin cân thu thập, xử lý phục vụ cho việc ra các ra các quyết định. Do đó tùy thuộc vào quy mô của tổ chức và các yếu tố bên trong, bên ngoài của tổ chức như đặc điểm công việc và sự phức tạp của hoạt động, trình độ của nhân lực và quản lý nhân lực; các chính sách kinh tế - xã hội của nhà nước, tư duy của người quản lý.để lựa chọn quy mô và cơ cấu bộ phận nguồn nhân lực cho phù hợp Như vậy, nguồn nhân lực theo cách tiếp cận mới hàm chứa nội dung rất rộng bao gồm các yếu tố về lực lượng (số lượng), trí thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội và sức sáng tạo, truyền thống lịch sử văn hoá. Nguồn nhân lực gồm các yếu tố sau: – Qui mô, cơ cấu dân số, lao động và sức trẻ của nguồn nhân lực. – Trình độ dân trí và chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực.
Yếu tố này đặc biệt quan trọng, quyết định việc tiếp thu, làm chủ khoa học, kỹ thuật, công nghệ cao và quản lý nền kinh tế trí thức, có liên quan và phụ thuộc vào sự phát triển nền giáo dục, đào tạo và dạy nghề. – Cấu thành nguồn lực con người còn thể hiện ở các yếu tố tạo nên tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người, liên quan đến môi trường pháp luật, thể chế và các chính sách giải phóng sức lao động, tạo động lực cho con người phát triển, phát huy tài năng và sức sáng tạo của mọi người lao động. 5 - Các yếu tố cấu thành nguồn lực con người liên quan đến truyền thống lịch sử, văn hoá, nó được bồi đắp, kết tinh trong mỗi con người và cả cộng đồng dân tộc, hun đúc nên bản lĩnh, ý chí, tác phong của con người trong lao động. +) Phát triển: Thuật ngữ phát triển theo nghĩa triết học là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.
Lý luận phép biện chứng duy vật đã khẳng đinh: Mọi sự vật hiện tượng không chỉ tăng lên hay giảm đi về số lượng mà cơ bản chúng luôn biến đổi, chuyển hoá sự vật từ hiện tượng này đến sự vật hiện tượng khác, cái mới kế tiếp cái cũ, giai đoạn sau kế thừa giai đoạn trước tạo thành quá trình phát triển tiến lên mãi mãi. Nguyên nhân của sự phát triển là sự liên hệ tác động qua lại của các mặt đối lập vốn có bên trong các sự vật hiện tượng. Hình thái cách thức của sự phát triển đi từ những biến đổi về lượng đến những biến đổi chuyển hoá về chất và ngược lại. Con đường, xu hướng của sự phát triển không theo đường thẳng, cũng không theo đường tròn khép kín mà theo đường xoay ốc tạo thành xu thế phát triển, tiến lên từ từ, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn.
Phát triển nhân lực là sự tăng tiến, chuyển biến, tiến bộ của các thành viên trong tổ chức để thực hiện hoàn thành mục tiêu của tổ chức đã đề ra. “ Phát triển nhân lực là nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức thông qua đào tạo, bồi dưỡng các cá nhân thành viên. Như vậy để nâng cao hiệu quả hoạt động thì tổ chức phải có các chương trình, kế hoạch để phát triển nguồn nhân lực của mình thông qua đào tạo, bồi dưỡng. Hoặc “Phát triển nhân lực là quá trình của các hoạt động chuẩn bị cung cấp nhân viên theo kịp cơ cấu tổ chức khi nó thay đổi hoặc tăng tiến.
Trong phát triển nhân lực cần phát triển cả số lượng để đáp ứng cơ cấu tổ chức, ngành nghề và cả trình độ chuyên môn nghiệp vụ của từng cá nhân thành viên. Thật sự nâng cao trình độ cũng như thái độ nghề nghiệp để họ đáp ứng được yêu cầu tăng tiến của xã hội cũng như mục tiêu của tổ chức. Nghĩa là cần phát triển cả số lượng trí lực, thể lực và tâm lực của những người trong tổ chức.2 Chiến lược phát triển nguồn nhân lực Hiện nay trên thế giới đang tồn tại khá nhiều định nghĩa về phát triển nguồn nhân lực. Nadler và Nadler cho rằng phát triển nguồn nhân lực và giáo dục đào tạo (theo nghĩa rộng) là những thuật ngữ có cùng nội hàm.
Hai tác giả này định nghĩa Phát triển nguồn nhân lực là làm tăng kinh nghiệm học được trong một khoảng thời gian xác định để tăng cơ hội nâng cao năng lực thực hiện công việc”. Rao cho rằng “Phát triển nguồn nhân lực là một quá trình, trong đó người lao động được hỗ trợ một cách liên tục và có kế hoạch để lĩnh hội thêm những năng lực để thực hiện những yêu cầu công việc hiện tại hoặc tương lai; phát triển năng lực để bộc lộ tiềm năng ẩn náu phục vụ phát triển bản thân hoặc phát triển tổ chức; phát triển văn hóa của tổ chức để cải thiện môi trường công việc, khích lệ và tăng niềm tự hào của người lao động” [24]. Trong khi đó, UNESCO sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và cho rằng nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn phù hợp yêu cầu phát triển của đất nước. Còn theo tổ chức Lao động Thế giới (ILO), phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào làm việc có hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân.
Liên hiệp quốc thì nghiêng về sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng, bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống.19-25] Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế - chính trị có thể hiểu: phát triển nguồn nhân lực là phát triển tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước. Chính vì vậy, nguồn lực con người là động lực nội sinh quan trọng nhất, song nguồn lực này cần phải được phát triển có hiệu quả mới phát huy được tiềm năng vô tận của nó. 7 Nguồn nhân lực trong giáo dục là bộ phận trọng yếu của nguồn nhân lực, việc phát triển càng cần được đặc biệt quan tâm. Để hiểu vai trò của phát triển nguồn nhân lực giáo dục, trước hết cần khẳng định vị trí, vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển KTXH.
Trong phát triển nguồn nhân lực giáo dục là có sự kết hợp giữa phát triển về thể lực, trí lực và nhân cách. Vai trò của đội ngũ giáo viên đã được nhắc đến rất nhiều, có thể thấy trong suốt cuộc đấu tranh trường kỳ giữ nước và dựng nước, Đảng và Nhà nước ta luôn tôn vinh nghề dạy học và vị trí cao cả của người thầy, Bác Hồ đã nói: “ Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản? Người thầy giáo tốt – thầy giáo xứng đáng là thầy giáo- là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những thầy giáo tốt là những anh húng vô danh”.Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: “ Nghề dạy học là một nghề cao quí.