Chương 1: Lý luận chung về thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ. Chương 2: Thực trạng hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ của Công ty Trách nhiệm hữu han Savi giai đoạn 2015 — 2019. Chương 3: Một số giải pháp để mở rộng thị trường xuất khâu của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Savi CHUONG 1: LÝ LUẬN CHUNG VE THỊ TRUONG XUAT KHAU SAN PHAM GO 1. Tầm quan trong của hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ đối với các doanh nghiệp 1.
Khái niệm về xuất khẩu sản phẩm gỗ Theo điêu 28, mục 1, chương 2, Luật thương mại Việt Nam 2005, xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thé Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Nguyễn Duy Bột (2003, Thuong mại quốc tế và phát triển thị trường xuất khẩu, Nhà xuất bản Thông Kê, Hà Nội) thì “xuất khẩu hàng hóa là việc những sản phẩm hàng hóa hữu hình được sản xuất hoặc gia công tại các cơ sở sản xuất, gia công và các khu chế xuất với mục dich dé tiêu thụ tại thị trường ngoài nước (xuất khẩu) đi qua hải quan.” Tuy có nhiều khái niệm khác nhau về xuất khẩu nhưng tổng kết lại ta thấy xuất khẩu chính là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương thức thanh toán, với mục tiêu là lợi nhuận. Tiền tệ ở đây có thé là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc cả hai quốc gia. Mục đích của hoạt động này là thu được một khoản ngoại tệ dựa trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế.
Sản phẩm gỗ (mặt hàng đồ gỗ) các loại là các mặt hàng đã qua khâu chế biến, sử dụng nguyên liệu gỗ các loại, có thể được sử dụng trong xây dựng, trang trí nội thất và sử dụng như đồ gia dụng. Sản phẩm gỗ được chia làm hai loại chính, một loại ở dang tinh chế hay gọi chung là sản phâm nội thất, một loại ở dạng sơ chế và gọi chung là đồ gỗ. Như vậy, xuất khâu sản phâm gỗ chính là hoạt động bán các mặt hàng đồ gỗ cho các khách hàng doanh nghiệp nước ngoài nhằm thu lợi nhận dựa trên lợi thế chi phí nhân công và chi phí nguyên vật liệu. Vai trò của hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ đối với doanh nghiệp Cùng với sự bùng nỗ của nền kinh tế toàn cầu thì xu hướng vươn ra thị trường quốc tế là một xu hướng chung của tất cả các quốc gia và các doanh nghiệp.
Xuất khẩu là một trong những con đường quen thuộc để các doanh nghiệp thực hiện kế hoạch banh trướng, phát triển, mở rộng thị trường của mình. — Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Nhờ có xuất khâu mà tên tuổi của doanh nghiệp không chỉ được các khách hàng trong nước biết đến mà còn có mặt ở thị trường nước ngoài. — Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, tăng dự trữ qua đó nâng cao khả năng nhập khẩu, thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu.
phục vụ cho quá trình phát triển. — _ Xuất khâu phát huy cao độ tính năng động sáng tao của cán bộ xuất nhập khẩu cũng như các đơn vị tham gia như: tích cực tìm tòi và phát triển các mặt trong khả năng xuất khâu các thị trường mà doanh nghiệp có khả năng thâm nhập. — Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị kinh doanh. Đồng thời giúp các doanh nghiệp kéo dài tuổi thọ của chu kỳ sống của một sản phẩm.
— Xuất khẩu tất yếu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi lẫn nhau giữa các đơn vị tham gia xuất khẩu trong và ngoài nước. Đây là một trong những nguyên nhân buộc các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu phải nâng cao chất lượng hàng hoá xuất khâu, các doanh nghiệp phải chú ý hơn nữa trong việc hạ giá thành của sản phẩm, từ đó tiết kiệm các yêu tố đầu vào, hay nói cách khác tiết kiệm các nguồn lực. — Sản xuất và xuất khâu hàng hóa giúp doanh nghiệp tạo việc làm và tăng thêm thu nhập cho người lao động, ồn định đời sống cán bộ của công nhân viên. — Doanh nghiệp tiễn hành hoạt động xuất khâu có cơ hội mở rộng quan hệ buôn bán kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài dựa trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.
Các hình thức xuất khẩu sản phẩm gỗ Dé tăng kim ngạch xuất khẩu, một doanh nghiệp thường áp dụng nhiều phương thức kinh doanh xuất khẩu khác nhau. Mỗi phương thức lại có những ưu, nhược điểm riêng của mình ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vì vậy việc lựa chọn phương thức xuất khẩu sao cho phù hợp là hết sức quan trọng. Sau đây là các phương thức kinh doanh xuất khâu sản phẩm gỗ phô biến của các doanh nghiệp ngành gỗ: 1. Xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp là việc xuất khâu các loại hàng hoá và dịch vụ do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước tới khách hàng nước ngoài thông qua các tổ chức của mình.
Trong hình thức xuất khẩu này, hai bên mua bán hàng sẽ trực tiếp ký kết hợp đồng ngoại thương. Hợp đồng ký kết giữa hai bên phải phù hợp với luật lệ của quốc gia cũng như thông lệ mua bán quốc tế. Hình thức xuất khẩu trực tiếp thích hợp đối với gần như mọi loại hình doanh nghiệp, giúp họ chủ động được hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình. Loại hình này cũng là sự lựa chọn của các doanh nghiệp đang muốn khang định thương hiệu của mình trên thị trường quốc tế.
Dé thực hiện hợp đồng xuất khâu, đơn vị kinh doanh phải tiễn hành các khâu công việc: giục mở L/C và kiểm tra luận chứng (nếu hợp đồng quy định sử dụng phương pháp tín dụng chứng từ), xin giấy phép xuất khẩu, chuẩn bị hàng hoá làm thủ tục hải quan, giao hàng lên tàu, mua bảo hiểm, làm thủ tục thanh toán và giải quyết khiếu nại (nếu có). e Ưu điểm của hình thức: Với phương thức này, đơn vị kinh doanh chủ động trong kinh doanh, tự mình có thé thâm nhập thị trường và do vậy có thé đáp ứng nhu cầu thị trường, gợi mở, kích thích nhu cầu. Nếu don vị tổ chức hoạt động kinh doanh tốt sẽ đem lại hiệu quả kinh doanh cao, giảm được chi phí trung gian. Bên cạnh đó doanh nghiệp có thể chủ động trong việc tiêu thụ hàng hoá sản phẩm của mình, tự khang định mình về sản phẩm, nhãn hiệu.
dan dan đưa được uy tín về sản pham trên thé giới. e Nhược điểm của hình thức: - Dễ xảy ra rủi ro. Nếu như không có cán bộ xuất nhập khâu có đủ trình độ và kinh nghiệm khi tham gia ký kết hợp đồng ở một thị trường mới hay mắc phải sai lầm gây bat lợi cho mình. - _ Khối lượng hàng hoá khi tham giao giao dịch thường phải lớn thì mới có thé bù đắp được chi phí trong việc giao dich.
Trong điều kiện đơn vị mới kinh doanh, kinh nghiệm còn ít thì áp dụng hình thức này rất khó do điều kiện vốn sản xuất hạn chế, am hiểu thương trường quốc tế còn mờ nhạt, uy tín nhãn hiệu sản phẩm còn xa lạ với khách hàng. Gia công xuất khẩu Gia công xuất khẩu là một phương thức kinh doanh trong đó một bên (gọi là bên nhận gia công) nhập khâu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) dé chế biến ra thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là chi phí gia công). Tóm lại, gia công xuất khâu là đưa 5 các yêu tố sản xuất (chủ yếu là nguyên vật liệu) từ nước ngoài về dé sản xuất hàng hoá theo yêu cầu của bên đặt hàng, nhưng không phải để tiêu dùng trong nước mà dé xuất khẩu thu ngoại tệ chênh lệch do hoạt động gia công đem lại. Vì vậy, suy cho cùng, gia công xuất khẩu là hình thức xuất khẩu lao động, nhưng là loại lao động dưới dạng được sử dụng (được thể hiện trong hàng hoá) chứ không phải dưới dạng xuất khẩu nhân công ra nước ngoài.
Gia công xuất khâu là một phương thức phổ biến trong thương mại quốc tế. Hoạt động này phát triển sẽ khai thác được nhiều lợi thế của hai bên: bên đặt gia công và bên nhận gia công. Ủy thác xuất khẩu Trong phương thức này, đơn vị có hàng xuất khẩu là bên uỷ thác giao cho đơn vị xuất khẩu gọi là bên nhận uỷ thác tiễn hành xuất khẩu một hoặc một số lô hàng nhất định với danh nghĩa của mình (bên nhận uỷ thác) nhưng với chi phí của bên uỷ thác. Về ban chat, chi phí trả cho bên nhận uỷ thác chính là tiền thu lao trả cho đại lý.
Theo nghị định 64-HĐBT, chi phí uỷ thác xuất khẩu không cao hơn 1% của tong s6 doanh thu ngoai té về xuất khẩu theo điều kiện FOB tại Việt Nam. Một số lưu ý khi thực hiện xuất khâu ủy thác quy định tại Nghị định 12/2006/NĐ-CP là: - Thuong nhân được ủy thác cho thương nhân khác xuất khẩu các loại hàng hóa, trừ hàng hóa thuộc Danh mục cắm xuất khâu, tạm ngừng xuất khẩu. - _ Đối với hàng hóa xuất khẩu theo giấy phép, bên ủy thác hoặc bên nhận ủy thác phải có giấy phép xuất khâu trước khi ký hợp đồng ủy thác hoặc nhận ủy thác. - _ Quyền lợi và nghĩa vụ của bên ủy thác, bên nhận ủy thác xuất khẩu do các bên tự thỏa thuận trong hợp đồng ủy thác xuất khẩu.
Hình thức bao gồm các bước: - Ky kết hợp đồng xuất khẩu uỷ thác với đơn vị trong nước. - Ky hợp đồng xuất khâu, giao hàng và thanh toán tiền hàng bên nước ngoài. - Nhận phí uy thác xuất khẩu từ đơn vị trong nước. e Ưu điểm của hình thức: Công ty ủy thác xuất khẩu không phải bỏ vốn vào kinh doanh, tránh được rủi ro trong kinh doanh mà vẫn thu được một khoản lợi nhuận là hoa hồng cho xuất khẩu.
Do chỉ thực hiện hợp đồng uy thác xuất khẩu nên tat cả các chi phí từ nghiên cứu thị trường, giao dịch đàm phán ký kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng không phải chi, dẫn tới giảm chi phí trong hoạt động kinh doanh của công ty.