phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, báo cáo chuyên đề đƣợc kết cấu gồm các chƣơng: Luan van Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhập khẩu Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh tại Công ty TNHH thuơng mại HASAN Chƣơng 3: Đánh giá thực trạng và định hƣớng thúc đẩy hiệu quả kinh doanh của Công ty TNHH thƣơng mại HASAN Luan van NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP NHẬP KHẨU 1.1 NHẬP KHẨU VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU 1.1 Khái niệm kinh doanh nhập khẩu 1.1 Khái niệm Để hiểu rõ hơn về khái niệm kinh doanh nhập khẩu ta cần phải tìm hiểu khái niệm về kinh doanh, về nhập khẩu hàng hoá. Trƣớc hết, kinh doanh là một hoạt động đƣợc một cá nhân hoặc một nhóm ngƣời thực hiện với mục đích tạo ra lợi nhuận. Hoạt động kinh doanh có nghĩa là sản xuất hoặc mua bán hàng hoá và dịch vụ để bán cho khách hàng. Trong hoạt động kinh doanh có hai loại lƣu thông: Lƣu thông hàng hoá và lƣu thông tiền tệ.
Theo luật Thƣơng mại “ Nhập khẩu hàng hoá là việc hàng hoá đƣợc đƣa vào lãnh thổ Việt Nam từ nƣớc ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam đƣợc coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” Vì vậy, ta có thể hiểu: Kinh doanh nhập khẩu là dùng tiền của, công sức, tài năng,.vào việc mua hàng hoá từ nƣớc ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam (đƣợc coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật) để bán nhằm mục đích kiếm lợi. Kinh doanh nhập khẩu là trao đổi hàng hoá dịch vụ giữa các nƣớc thông qua hành vi mua bán. Sự trao đổi đó là một hình thức có mối quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế giữa những ngƣời sản xuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia khác nhau trên thế giới.2 Vai trò của kinh doanh nhập khẩu hàng hoá Kinh doanh nhập khẩu hàng hoá có vai trò to lớn, tiếp thu nguồn lực từ bên ngoài, là điều kiện quan trọng để đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc. Quốc gia cũng nhƣ các cá nhân không thể sống một cách tách biệt riêng rẽ mà đầy đủ mọi thứ hàng hoá.Kinh doanh nhập khẩu mở ra khả năng tiêu dùng của một nƣớc cho Luan van phép nƣớc này tiêu dùng những mặt hàng có nƣớc đó không sản xuất đƣợc, hoặc sản xuất nhƣng không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc.
Kinh doanh nhập khẩu là khâu trung gan giữa một bên là sản xuất, phân phối, một bên là tiêu dùng.Sản xuất sáng tạo ra sản phẩm thích hợp với nhu cầu, phân phối là phân chia các sản phẩm theo quy luật xã hội; trao đổi một lần nữa lại phân phối hàng hoá theo nhu cầu riêng và tiêu dùng sản phẩm đƣa lại cho sản phẩm sột sự hoàn thiện cuối cùng. Đối với lĩnh vực sản xuất vật chất, kinh doanh nhập khẩu cung ứng vật tƣ hàng hoá cần thiết cho sản xuất một cách đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, đúng số lƣợng, chất lƣợng, chính xác với quy mô ngày càng mở rộng. Đối với lĩnh vực tiêu dùng, các cá nhân có thể dễ dàng thoả mãn nhu cầu về hàng hoá tiêu dùng trên thị trƣờng một cách đầy đủ, kịp thời, thuận lợi và văn minh. Kinh doanh nhập khẩu đặc biệt là kinh doanh mỹ phẩm giữ vai trò chính trong sự tồn tại và phát triển của công ty.
Kinh doanh nhập khẩu tạo ra lợi nhuận giúp việc duy trì sự tồn tại và phát triển của công ty. Mặt khác, đối với công ty TNHH thƣơng mại HASAN kinh doanh nhập khẩu không những có quan hệ với nhà sản xuất nƣớc ngoài mà còn liên quan chặt chẽ với các doanh nghiệp trong nƣớc. Nếu đẩy mạnh hoạt động kinh doanh công ty có thể thu thập đầy đủ và chính xác các thông tin về cung cầu, giá cả lên xuống, những nhân tố khách quen tác động trực tiếp đến thị trƣờng, khách hàng của công ty.2 Các hình thức nhập khẩu chủ yếu của doanh nghiệp 1.1 Các hình thức nhập khẩu 1.1 Nhập khẩu uỷ thác Nhập khẩu uỷ thác là một hoạt động kinh doanh mà các doanh nghiệp muốn nhập khẩu một mặt hàng nào đó nhƣng không có quyền tham gia hay không có khả năng tham gia, khi đó sẽ uỷ nhiệm cho một doanh nghiệp khác giao dịch trực tiếp tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác sẽ nhận đƣợc một khoản thù lao gọi là phí uỷ thác.Hình thức này có đặc điểm là: - Bên nhận uỷ thác không phải bỏ vốn cũng không phải xin hạn ngạch, không phải nghiên cứu thị trƣờng do không phải tiêu thị hàng hoá nhập khẩu mà chỉ đứng ra đại diện Luan van cho bên uỷ thác để tìm và giao dịch với đối tác nƣớc ngoài, ký kết hợp đồng và làm thủ tục nhập hàng, thay mặt bên uỷ thác khiếu nại, bồi thƣờng với bên nƣớc ngoài khi có tổn thất hay vi phạm hợp đồng xảy ra.
- Trong hình thức kinh doanh này, doanh nghiệp nhận uỷ thác đƣợc nhận một phần thù lao gọi là chi phí uỷ thác trị giá khoảng 0.5% tổng giá trị hợp đồng và phải nộp thuế thu nhập trên nguồn thu này, không đƣợc tính doanh số và nộp thuế giá trị gia tăng. Nhập khẩu trực tiếp Nhập khẩu trự tiếp là hoạt động kinh doanh mà các nhà độc quyền sản xuất công nghiệp trực tiếp mua hàng của các nhà sản xuất và phải tự tổ chức các khâu của quá trình nhập khẩu không qua trung gian. Hình thức này có ƣu điểm là tiết kiệm đƣợc chi phí trung gian nhƣng mức độ rủi ro lại cao nếu nhƣ không tìm hiểu kỹ về mặt hàng cũng nhƣ quan hệ với đối tác. Đối với hình thức này doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm pháp lý về mọi hoạt đông, tự nghiên cứu thị trƣờng, chịu mọi chi phí về giao dịch, giao nhận lƣu kho, quảng cáo, chi phí tiêu thụ hàng hoá và thuế.3 Nhập khẩu tái xuất Là hình thức nhập khẩu hàng hoá từ nƣớc ngoài vào trong nƣớc, không nhằm mục đích tiêu thụ mà nhằm mục đích tái xuất sang nƣớc thứ ba để thu đƣợi lợi ích lớn hơn.
Nhập khẩu tái xuất có đặc điểm sau: - Doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở nƣớc tái xuất phải tính chi phí ghép mối đối tác xuất và đối tác nhập, đảm bảo lợi nhuận, thu đƣợc số tiền lớn hơn số tiền đã bỏ ra. - Doanh nghiệp nƣớc tái xuất phải lập 2 hợp đồng: một hợp đồng nhập khẩu và một hợp đồng xuất khẩu và không phải chịu thuế xuất nhập khẩu. - Để đảm bảo thanh toán hợp đồng tái xuất thƣờng đƣợc thanh toán bằng thƣ tín dụng giáp lƣng. - Hàng hoá không nhất thiết phải chuyển về nƣớc tái xuất mà có thể chuyển thẳng sang nƣớc thứ ba nhƣng tiền hàng thì trả luôn cho ngƣời tái xuất.Số tiền này thu đƣợc từ nƣớc nhập khẩu và trả cho nƣớc xuất khẩu.4 Nhập khẩu thông qua đấu thầu quốc tế Luan van Là hình thức giao dịch đặc biệt trong đó ngƣời mua công bố trƣớc các điều kiện giao hàng để ngƣời bán báo giá cả và các điều kiện khác.
Sau đó ngƣời mua sẽ tiến hành lựa chọn để mua hàng của những ngƣời bán có giá và các điều kiện phù hợp nhất với những yêu cầu ngƣời mua đặt ra. Đây là phƣơng pháp đƣợc các nhà nhập khẩu sử dụng phổ biến. Ƣu điểm của nó là chỉ có một ngƣời mua nhƣng lại có rất nhiều ngƣời bán. Do vậy thông qua đấu thầu sẽ phát huy đƣợc tính cạnh tranh giữa các nhà cung cấp, nhờ đó ngƣời mua sẽ có lợi hơn và thoả mãn đƣợc nhu cầu của mình dễ dàng hơn.5 Nhập khẩu theo hình thức hàng đổi hàng Là hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu.Trong đó ngƣời bán chính là ngƣời mua, lƣợng hàng trao đổi có giá trị tƣơng đƣơng.
Ƣu điểm của hình thức này là vừa bán đƣợc hàng, vừa mua đƣợc hàng, tiết kiệm đƣợc chi phí Hình thức này có đặc điểm: - Mang lại lợi ích cho cả hai bên bởi cùng một đồng mà vừa xuất khẩu đƣợc vừa nhập khẩu đƣợc hàng hoá mà không phải mất chi phí liên quan. - Đối tác xuất khẩu cũng chính là đối tác nhập khẩu - Hình thức này chỉ áp dụng đối với trƣờng hợp có nhu cầu buôn vấn đối lƣu đối với hai nƣớc. Hàng hoá nhập khẩu tƣơng đƣơng nhau về giá trị và cân bằng về giá cả.6 Nhập khẩu dƣới hình thức liên doanh liên kết Là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở hợp tác một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp nhằm phối hợp tác một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp nhằm phối hợp thế mạnh để cùng giao dịch nhập khẩu và cùng đề ra chủ trƣơng, biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này theo hƣớng có lợi cho cả hai bên. Trong đó các bên cùng chia lãi và cùng chịu lỗ.
Hình thức này có ƣu điểm là chịu rủi ro ít hơn vì mỗi doanh nghiệp liên doanh, liên kết nhập khẩu chỉ phải góp một phần vốn nhất định, cùng với đó là quyền hạn, trách nhiệm, chi phí, lỗ lãi… của hai bên cùng với số vốn góp này. Doanh nghiệp đứng ra nhận hàng nhập khẩu sẽ đƣợc tính kim ngạch xuất nhập khẩu nhƣng đến khi tiêu thụ chỉ đƣợc tính doanh số trên số hàng tính theo tỉ lệ vốn góp và chịu thuế giá trị gia tăng theo số vốn góp. Luan van - Doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp sẽ phải lập hai hợp đồng, một hợp đồng mua hàng với đối tác nƣớc ngoài và một hợp đồng liên doanh với các doanh nghiệp khác. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh 1.
Hiệu quả kinh doanh Theo khoản 2, điều 4, chƣơng I của Luật Doanh Nghiệp Việt Nam năm 2005 giải thích “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lời”.Nhƣ vậy về bản chất mọi doanh nghiệp tham gia kinh doanh đều nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận ở mức tối đa.Muốn đạt đƣợc điều ấy, yêu cầu đặt ra là họ phải hợp lý hoá hoạt động kinh doanh của mình. Và để xem xét mức độ hợp lý hoá đó, ngƣời ta thƣờng sử dụng thuật ngữ “ hiệu quả kinh doanh”.