CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING DÒNG RENO SERIES CỦA OPPO TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm Marketing Ngày nay marketing diễn ra khắp mọi nơi, khắp mọi lĩnh vực và giữ vai trò quan trọng trong sự thành công của doanh nghiệp. Thế nhưng đã có không ít những quan niệm sai lầm về marketing vì vậy để hiểu rõ hơn về marketing và tầm quan trọng của nó trước tiên ta đi vào tìm hiểu những khái niệm về marketing Marketing truyền thống: Marketing là quá trình cung cấp đúng sản phẩm, đúng kênh hay luồng hàng, đúng thời gian và đúng vị trí.
Marketing là việc tiến hành các hoạt động kinh doanh có liên quan trực tiếp đến dòng hàng hóa và dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Marketing hiện đại: Mục đích của Marketing không cần thiết đẩy mạnh tiêu thụ. Mụch đích của nó là nhận biết và hiểu khách hàng kỹ đến mức hàng hóa hay dịch vụ sẽ đáp ứng đúng thị hiếu của khách hàng và tự nó được tiêu thụ. Marketing là quá trình sáng tạo, phân phối, định giá, cổ động cho sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng để thỏa mãn những mối quan hệ trao đổi trong môi trường năng động.Đinh Tiên Minh, 2014) Marketing theo Philip Kotler: Marketing là một quá trình xã hội mà trong đó những cá nhân hay nhóm có thể nhận được những thứ mà họ cần thông qua viêc tạo ra và trao đổi tự do những sản phẩm, dịch vụ có giá trị với người khác.
Nguyên tắc và mục tiêu Marketing Nguyên tắc Marketing: Nguyên tắc chọn lọc: là nguyên tắc mang tính chủ đạo trong Marketing. Doanh nghiệp cần xác định thị trường nào mình hướng vào kinh doanh chứ không phải toàn bộ thị trường. Nguyễn Bách Khoa, 2010) 3 Nguyên tắc tập trung: nguyên tắc này hướng dẫn doanh nghiệp tập trung mọi nổ lực để đáp ứng thị trường mục tiêu đã chọn Nguyên tắc giá trị khách hàng: biểu thị sự thành công của doanh nghiệp trong thị trường mục tiêu khi nó có thể tháa mãn nhu cầu của khách hàng cả về chức năng cũng như cảm xúc. Nguyên tắc lợi thế khác biệt: nguyên tắc này đặt nền móng cho Marketing.
Marketing là sự khác biệt hóa, sự khác biệt làm cho khách hàng có ấn tượng và chú ý sản phẩm của mình so với đối thủ. Nguyên tắc phối hợp: nói lên cách thức thực hiện Marketing để đạt được nguyên tắc đã nêu. Marketing không phải là công việc riêng của bộ phận Maketing mà là công việc của tất cả thành viên trong tổ chức, để cùng nhau tạo ra khách hàng thông qua việc tạo ra các khách hàng hoàn hảo cho họ. Nguyên tắc quá trình: sự thay đổi nhanh chóng của môi trường Marketing và khách hàng mục tiêu sẽ làm cho những lợi thế hiện tại khó bền vững.
Thị trường luôn biến động, những gì tạo ra giá trị cao cho khách hàng hôm nay có thể nhanh chóng tahy đổi vào ngày mai. Vì vậy phải xác định Marketing là một quá trình chứ khộng phải là một biến cố, sự kiện. Mục tiêu Marketing: Tối đa hóa tiêu thụ: Tạo điều kiện dể dàng kích thích khách hang,tối đa hóa việc tiêu dung,điều này dẫn đến gia tăng suất lượng, giúp doanh nghiệp phát triển sản xuất và xã hội có nhiều hàng hóa, dịch vụ. Tối đa hóa sự tháa mãn của khách hàng:Tối đa hóa tiêu thụ là mục tiêu hàng đầu,nhung mục tiêu quan trọng hơn của marketing là sự tối đa hóa sự thỏa mãn nhu cầu khách hàng.
Sự tháa mãn này là tiền đề cho việc mua lập lại và sự trung thành đối với nhãn hiệu,tín nhiệm đối với nhà sản xuất. Tối đa hóa sự lựa chọn của khách hàng: Cung cấp cho khách hàng sự đa dạng,phong phú về chủng loại,về chất lượng,giá trị của sản phẩm hay dịch vụ,phù hợp với những nhu cầu cá biệt,thường xuyên thay đổi của khách hàng,nhờ vậy mà họ có thể tháa mãn nhu cầu của mình. 4 Tối đa hóa chất lượng cuộc sống: Thông qua việc cung cấp cho xã hội những sản phẩm dịch vụ có giá trị,giúp người tiêu dùng và xã hội ngày càng đầy đủ hơn,cao cấp hơn và hướng đến mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa chất lượng sản phẩm.Đinh Tiên Minh, 2014) 1. Vai trò của marketing trong kinh doanh Theo quá trình phát triển của xã hội, các doanh nghiệp ngày càng nhận thức cao về vai trò của Marketing trong kinh doanh.
Nếu trước đây Marketing chỉ có vai trò ngang bằng với các yếu tố khác của doanh nghiệp như yếu tố sản xuất, tài chính, nhân sự thì bây giờ Marketing đã trở thành triết lý mới trong kinh doanh. Vai trò của Markeing có thể khái quát như sau: Marketing hướng đến các doanh nghiệp nghệ thuật phát hiện nhu cầu khách hàng cũng như nghệ thuật làm hài long khách hàng,định hướng cho hoạt động kinh doanh và tạo thế chủ động cho doanh nghiệp. Marketing là cầu nối giúp doanh nghiệp giải quyết tốt các mối quan hệ và dung hòa lợi ích của doanh nghiệp mình với lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích xã hội. Marketing là công cụ cạnh tranh giúp doanh nghiệp xác lập vị trí,uy tín của mình trên thị trường.
Marketing trở thành trái tim của mọi hoạt động trong doanh nghiệp,các quyết định khác về công nghệ,tài chính nhân lực đều phụ thuộc phần lớn vào các quyết định marketing như:sản xuất sản phẩm gì? Cho thị trường nào?sản xuất như thế nào?số lượng bao nhiêu? 1. Chức năng của marketing Nếu hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm thì hoạt động Marketing tạo ra khách hàng và thị trường. vai trò này xuất phát từ những chức năng đặc thù của Marketing, những chức năng đó là: - Nghiên cứu thị trường và phát hiện nhu cầu. - Thích ứng nhu cầu thường xuyên thay đổi.
- Tháa mãn nhu cầu ngày càng cao. - Hiệu quả kinh tế. Quá trình marketing R→ STP→ MM→ I → C 1. R (reseach) - nghiên cứu thông tin marketing: Là quá trình thu thập xử lý và phân tích thông tin về thị trường, người tiêu dung, môi trường… giúp doanh nghiệp xác định được thị yếu tiêu dùng, cơ hội thị trường.
STP (Segmentation,targeting,positioning) - phân khúc,chọn thị trường mục tiêu, định vị: Nghiên cứu giúp doanh nghiệp khám phá nhiều phân khúc/nhóm khách hàng,nhóm khách hang nào là mục tiêu sẽ theo đuổi, để quyết định chính xác thị trường mục tiêu,chọn thị trường nào phù hợp với khả năng của mình.Doanh nghiệp còn phải định vị sản phẩm của mình để khách h có thể nhận thức trong tân trí khách hang về sản phẩm/dịch vụ. MM (Mareting_mix ) - Xây dựng chiến lược marketing_mix: Trên thị trường mục tiêu được lựa chọn,doanh nghiệp sẽ thiết kế một chiến lược phối thức marketing để định hướng và phục vụ thị trường mục tiêu đó 1. I (Implementation) - triển khai thực hiện chiến lược marketing: Quá trình biến những chiến lược,kế hoạch marketing thành hành động,Doanh nghiệp sẽ tổ chức, thực hiện chiến lược thông qua việc xây dựng các chương trình hành động cụ thể, tổ chức nguồn nhân lực để thực hiện nó. C (control) - Kiểm tra đánh giá chiến lược Marketing: Bước cuối cùng của quá trình marketing là kiểm soát.Một doanh nghiệp thành công không ngừng học hỏi, rút kinh nghiệm.
Họ phải thu thập thông tin phản hồi từ thị trường, đánh giá, đo lường kết quả hoạt động marketing có đạt được mục tiêu hay không. Các thành phần cơ bản của marketing -mix Khái niệm Marketing – Mix Marketing - mix là một tập hợp các biến số mà Công ty có thể kiểm soát và quản lý được và nó được sử dụng để cố gắng đạt tới những tác động và gây được những ảnh hưởng có lợi cho khách hàng mục tiêu. ( Theo Marketing, PGS-PTS. Trần Minh Đạo, ĐHKTQD) Trong Marketing - mix có đến hàng chục công cụ khác nhau.
Ví dụ như theo Borden thì Marketing - mix bao gồm 12 công cụ sau: 6 1. Hoạch định sản phẩm 7. Xây dựng thƣơng hiệu 9. Trưng bày 4.
Kênh phân phối 10. Chào hàng cá nhân 11. Kho bãi và vận chuyển 6. Theo dõi và phân tích Còn theo Mc Carthy thì Marketing - mix là một tập hợp gồm 4P công cụ là giá cả, sản phẩm, phân phối và xúc tiến.
Mô hình 4P của Mc Carthy được thể hiện như sau: Công ty (4P) Người tiêu dùng (4C) Sản phẩm (Product) Nhu cầu và mong muốn (Customer Solution) Giá cả (Price) Chi phí (Customer Cost) Phân phối (Place) Sự thuận tiện (Conveniene) Xúc tiến (Promotion) Thông tin (Communication) Các biến số trên của Marketing - mix luôn tồn tại độc lập và có mối quan hệ mật thiết với nhau yêu cầu phải đƣợc thực hiện đồng bộ và liên hoàn. Chúng đƣợc sắp xếp theo một kế hoạch chung. Tuy nhiên không phải tất cả các biến trên đều có thể điều chỉnh đƣợc sau một thời gian ngắn. Vì thế các Công ty thƣờng ít thay đổi Marketing - mix của từng thời kỳ trong một thời gian ngắn, mà chỉ thay đổi một số biến trong Marketing - mix.
Khái niệm sản phẩm 7 Sản phẩm là mọi thứ có thể chào bán trên thị trường để chú ý, mua, sử dụng hay tiêu dùng, có thể thoả mãn được một mong muốn hay nhu cầu. Cấp độ các yếu tố cấu thành đơn vị sản phẩm Đơn vị sản phẩm vốn là một chỉnh thể hoàn chỉnh chứa đựng những yếu tố, đặc tính và thông tin khác nhau về một sản phẩm. Những yếu tố, những đặc tính và thông tin đó có thể có những chức năng marketing khác nhau. Khi tạo ra một mặt hàng người ta thƣờng xếp các yếu tố đặc tính và thông tin đó theo 3 cấp độ có những chức năng marketing khác nhau như sau: Sản phẩm bổ sung.
Sản phẩm thực hiện. Sản phẩm theo ý tưởng. Phân loại sản phẩm, hàng hóa Phân loại hàng hoá theo thời hạn sử dụng và hình thái tồn tại: Hàng hoá lâu bền: là những vật phẩm thƣờng đƣợc sử dụng nhiều lần. Hàng hoá sử dụng ngắn hạn: là những vật phẩm đƣợc sử dụng một hoặc một vài lần.
Dịch vụ: là những đối tượng được bán dưới hình thức ích lợi hoặc sự thoả mãn. Phân loại hàng hoá theo thói quen tiêu dùng: Hàng hoá sử dụng hàng ngày: là hàng hoá mà người tiêu dùng mua cho việc sử dụng thường xuyên trong sinh hoạt. Hàng hoá mua khẩn cấp: là những hàng hoá được mua khi xuất hiện nhu cầu cấp bách vì một lí do bất thƣờng nào đó. Hàng hoá mua có lựa chọn: là những hàng hoá mà việc mua diễn ra lâu hơn, đồng thời khi mua khách hàng thường lựa chọn, so sánh, cân nhắc kĩ về nó.
Hàng hoá cho các nhu cầu đặc thù: là những hàng hoá có những tính chất đặc biệt hay hàng hoá đặc biệt mà khi mua người ta sẵn sàng bỏ thêm sức lực, thời gian để tìm kiếm và lựa chọn chúng.