CHƯƠNG I : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOÀN THIỆN TRIỂN KHAI CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm và lý thuyết cơ bản 1. Một số khái niệm 1. Chiến lược Về mặt lịch sử, chiến lược là một danh từ dùng để chỉ việc lên kế hoạch điều hành một cuộc chiến tranh.
Xuất phát từ “ straegos – người chỉ huy quân sự” trong tiếng Hy Lạp cổ, chiến lược được coi là nghệ thuật của các vị tướng. Từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX, chiến lược được ứng dụng vào lĩnh vực kinh doanh và thuật ngữ “ chiến lược kinh doanh” ra đời. Theo Johnson & Scholes (1999) “ Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên liên quan”. Theo Bruce Henderson, chiến lược gia đồng thời là nhà sáng lập Tập đoàn tư vấn Boston (BCG) “ Chiến lược là sự tìm kiếm thận trọng một kế hoạch hành động để phát triển và kết hợp lợi thế cạnh tranh của tổ chức.
Những điều khác biệt giữa bạn và đối thủ canh tranh là cơ sở cho lợi thế cạnh tranh của bạn”. David (2008), khái niệm chiến lược được mở rộng theo hướng “ tập hợp quyết định và hành động cho phép dự đoán trước, hoặc ít nhất là dự báo được một tương lai có thể nhìn thấy trước nhưng vẫn còn đầy bất trắc và rủi ro”. ( Nguồn : Giáo trình Quản trị chiến lược Đại học Thương mại – PGS.TS Nguyễn Hoàng Long PGS. TS Nguyễn Hoàng Việt - NXB Thống kê 2015) Một cách tổng quát, G.
Scholes định nghĩa : “ Chiến lược bao hàm việc ấn đinh các mục tiêu cơ bản, dài hạn của doanh nghiệp, đồng thời lựa chon cách thức hoặc tiến trình hành động và phân bổ các nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”. ( Nguồn : Giáo trình Quản trị chiến lược Đại học Thương mại – PGS.TS Nguyễn Hoàng Long PGS. TS Nguyễn Hoàng Việt - NXB Thống kê 2015) Tóm lại, tùy vào mục đích nghiên cứu, thời kì phát triển và các góc độ nhìn nhận khác nhau mà ra đời các đinh nghĩa chiến lược khác nhau, tuy nhiên xét về bản chất chiến lược có thể hiểu là hệ thống các quan điểm, mục tiêu cơ bản cùng các giải pháp, Luan van 8 chính sách cụ thể nhằm sử dụng tối ưu các nguồn lực, lợi thế, cơ hộ của chủ thể để đạt được các mục tiêu đã đề ra trong một thời gian nhất định. Như vậy, chiến lược của doanh nghiệp bao gồm: Nơi mà doanh nghiệp cố gắng vươn tới trong dài hạn.
Doanh nghiệp phải cạnh tranh trên thị trường nào và những hoạt động kinh doanh nào doanh nghiệp thực hiện trên thị trường đó. Những nguồn lực nào cần có để có thể cạnh tranh được. Những nhân tố từ môi trường bên ngoài ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Những giá trị và kỳ vọng mà những người có quyền hành trong và ngoài doanh nghiệp cần là gì.
Chiến lược kinh doanh Kể từ khi thuật ngữ chiến lược kinh doanh ra đời, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về chiến lược kinh doanh.Porter: “ Chiến lược kinh doanh còn được gọi là chiến lược cạnh tranh hay đơn giản là chiến lược định vị, được hiểu là các công cụ, giải pháp, nguồn lực để xác lập vị thế chiến lược nhằm đạt các mục tiêu dài hạn của một công ty”. Ngày nay thuật ngữ chiến lược kinh doanh được sử dụng khá nhiều ở Việt Nam: Chiến lược kinh doanh là định hướng hoạt động kinh doanh có mục tiêu trong một khoảng thời gian dài cùng với hệ thống chính sách, biện pháp và cách thức phân bổ nguồn lực để thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp trong khoảng thời gian tương ứng. Quan điểm phổ biến hiện nay cho rằng “chiến lược kinh doanh là nghệ thuật phối hợp các hoạt động và điều khiển chúng nhằm đạt tới mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp”. ( Nguồn: Giáo trình quản trị chiến lược, PGS.TS Ngô Kim Thanh và Lê Văn Tâm – Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội 2009).
Dù tiếp cận theo cách nào thì bản chất của chiến lược kinh doanh vấn là phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động và khả năng khai thác. Chiến lược kinh doanh xác lập mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp, đưa ra các chương trình hành động tổng quát sau đó lựa chọn các phương án hành động, triển Luan van 9 khai phân bổ các nguồn lực để có thể thực hiện được các mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Mục tiêu chiến lược được hiểu là những gì mà doanh nghiệp cần vươn tới, cần đạt được trong một khoảng thời gian nhất định. Việc thiết lập mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp không chỉ đơn giản là nghĩ ra một kết quả nào đó mà doanh nghiệp muốn đạt được trong tương lai mà cần phải có sự cân nhắc cẩn thận dựa trên nguồn lực mà doanh nghiệp đang có và sự biến động của môi trường xung quanh.
Mục tiêu chiến lược là kết quả cuối cùng hay là trạng thái mà doanh nghiệp muốn đạt tới trong một khoảng thời gian nhất định. Mục tiêu chiến lược là kết quả cụ thể của doanh nghiệp cần đạt được khi thực hiện chiến lược. Các nhân tố cấu thành chiến lược Thông thường, chiến lược của một doanh nghiệp bao gồm 6 yếu tố cơ bản: Chiến lược đề cập đến định hướng trong dài hạn của doanh nghiệp. Chiến lược liên quan đến việc xác định phạm vi hoạt động của doanh nghiệp Chiến lược có mục tiêu hướng tới việc mang lại lợi thế cạnh tranh hay “ tính khác biệt” cho doanh nghiệp.
Chiến lược của doanh nghiệp được hình thành từ sự biến động liên tục của môi trường cạnh tranh.Vì vậy, chiến lược phải cho phép xác lập được vị thế của doanh nghiệp trong mối quan hệ tương thích giữa môi trường và thị trường. Chiến lược được hình thành từ các nguồn lực và năng lực bên trong của doanh nghiệp. Thực thi chiến lược đòi hỏi phải có phương thức phân bổ các nguồn lực: Tài chính, nhân lực, cơ sở hạ tầng, công nghệ, marketing… một cách tối ưu. Chính sách Chính sách được xem như những chỉ dẫn chung chỉ ra những giới hạn hoặc ràng buộc về cách thức để đạt tới mục tiêu.
Các chính sách giúp các thành viên và các quản trị viên biết họ được mong muốn những gì và qua đó làm tăng khả năng các chiến lược được thực thi thắng lợi. Các chính sách cũng là cơ sở cho việc kiểm soát quản trị, cho phép hợp tác giữa các bộ phận trong tổ chức, làm giảm thiểu thời gian ra quyết định và làm rõ việc gì được làm, bởi ai. ( Nguồn : Giáo trình Quản trị chiến lược Đại học Thương mại – PGS.TS Nguyễn Hoàng Long PGS. TS Nguyễn Hoàng Việt - NXB Thống kê 2015).
Luan van 10 Chính sách kinh doanh được thiết lập nhằm các mục đích xác định các giới hạn, phạm vi và cơ chế bắt buộc cho các hoạt động; làm rõ cái gì có thể làm và cái gì không thể làm khi theo đuổi các mục tiêu chiến lược. Đây là cơ sở để điều chỉnh hành vi của mọi bộ phận, cá nhân cũng như xác định cơ chế hưởng phạt. Chính sách cũng hướng dẫn phân công trách nhiệm giữa các bộ phận và cá nhân trong quá trình thực hiện chiến lược. Chính sách làm rõ việc gì sẽ được ai làm, khuyến khích việc uỷ quyền ra quyết định cho các cấp quản trị phù hợp.
Chính sách có tác dụng tăng cường kiểm soát hoạt động, khuyến khích và thúc đẩy sự hợp tác giữa các bộ phận, cá nhân và làm giảm thời gian ra quyết định.Ngoài ra chính sách được đưa ra nhằm tổ chức thực hiện và kiểm tra tình hình thực hiện chiến lược theo các mục tiêu chiến lược và chiến thuật nhất định. Các chính sách được sử dụng như một cơ chế thực thi chiến lược, phương tiện để thực hiện các quyết định chiến lược. Do vậy, chính sách thường được doanh nghiệp công bố bằng văn bản và phổ biến rộng rãi đến mọi người. Chính sách kinh doanh là một trong các công cụ triển khai chiến lược, là cơ sở đảm bảo biến các mục tiêu chiến lược thành các kế hoạch cụ thể.
Muốn vậy trong mỗi thời kỳ chiến lược cụ thể chính sách kinh doanh phải đảm ứng được các yêu cầu cụ thể. Chính sách kinh doanh phải phù hợp với chiến lược và phải phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu chiến lược. Đây là một yêu cầu hiển nhiên vì chính sách được thiết lập nhằm triển khai thực hiện các mục tiêu chiến lược. Muốn vậy, các nhà hoạch định chính sách phải biết căn cứ vào các mục tiêu chiến lược tổng quát cũng như các chiến lược giải pháp để xây dựng các chính sách kinh doanh cụ thể trong từng thời kỳ chiến lược.
Chính sách phải cụ thể, rõ ràng, giảm thời gian ra quyết định và độ không chắc chắn của những quyết định. Yêu cầu này là bắt buộc nhằm đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động quản trị. Muốn đạt được điều này các chính sách phải xây dựng thật cụ thể, tiếp cận phương pháp định lượng. Chính sách phải đưa ra được những câu trả lời cho câu hỏi thường ngày.
Điều này có nghĩa là chính sách của từng thời kỳ chiến lược phải thích hợp với các điều kiện cụ thể ở thời kỳ chiến lược, phải coi đó là cơ sở để xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch ngắn hạn hơn. Các chính sách phải bao quát được tất cả những lĩnh vực cơ bản nhất trong tổ chức. Lê Thị Bích Ngọc Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa) Luan van 11 1. Một số lý thuyết cơ bản 1.
Lý thuyết về triển khai chiến lược Triển khai chiến lược là giai đoạn cốt lõi của quản trị chiến lược. Triển khai chiến lược là việc hiện thực hóa những lựa chọn trong giai đoạn hoạch định chiến lược bằng các hành động cụ thể.