Chương 1 trình bày tóm tắt những lý thuyết cơ bản về chiến lược kinh doanh phục vụ cho việc phân tích môi trường kinh doanh và xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty VINECO. Chiến lược kinh doanh. David (1): Chiến lược là phương tiện để đạt đến những mục tiêu dài hạn. Chiến lược kinh doanh có thể gồm có sự đa dạng hóa hoạt động, sở hữu hóa, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm chi tiêu, thanh lý và liên doanh.
Theo Alfred Chandler (2): Chiến lược bao gồm những mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động, phân bổ nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó. Theo William J’ Glueck (3): Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp, được thiết kế đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của tổ chức sẽ được thực hiện. Porter (4): Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ. Theo Johnson và Scholes (5): Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan.
(1) Fred David (2006), Bản dịch khái luận về quản trị chiến lược, Nhà xuất bản thống kê, trang 20. (2) (3) (4) Nguyễn Khoa Khôi, Đồng Thị Thanh Phương (2008), Quản trị chiến lược, Nhà xuất bản thống kê, trang 4. (5) Lê Thế Giới, Nguyễn Thanh Liêm, Trần Hữu Tài (2009), Quản trị chiến lược, Nhà xuất bản thống kê, trang 10. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Những định nghĩa về chiến lược tuy có sự khác biệt nhưng về cơ bản thì gồm các nội dung sau: Xác định các mục tiêu dài hạn và cơ bản của tổ chức.
Đưa ra các chương trình hành động tổng quát. Lựa chọn các phương án hành động, triển khai việc phân bổ các nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó. Năng lực cạnh tranh. Theo Aldington Report (1985), doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế.
Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp. Theo Buckley (1988), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần được gắn kết với việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp với 3 yếu tố: các giá trị chủ yếu của doanh nghiệp, mục đích chính của doanh nghiệp và các mục tiêu giúp các doanh nghiệp thực hiện chức năng của mình. Dưới đây là một số cách quan niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: - Thứ nhất, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với các đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp.
- Thứ hai, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự tấn công của doanh nghiệp khác. Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế có trích dẫn khái niệm năng lực cạnh tranh theo Từ điển Thuật Ngữ chính sách thương mại (1997), năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chất định tính, khó có thể định lượng. - Thứ ba, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động.
Porter (1990), năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp. - Thứ tư, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh. Tác giả Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, tác giả Trần Sửu (2005) cũng có ý kiến tương tự: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững”.
Như vậy, cho đến nay quan niệm về năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu thống nhất. Tuy nhiên chúng ta có thể hiểu năng lực cạnh tranh như sau: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững. Theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm, năng lực lõi là tất cả các kiến thức, công nghệ, kỹ năng và kinh nghiệm cơ bản cho hoạt động của doanh nghiệp và mang đến cho doanh nghiệp tính đặc thù riêng biệt. Lợi thế cạnh tranh.
Theo Philip Kotler và Gary Armstrong, lợi thế cạnh tranh được hiểu là sự lợi thế hơn các đối thủ cạnh tranh nhờ cống hiến giá trị lớn hơn, hoặc do có giá rẻ hơn, hay vì cung cấp nhiều lợi ích hơn, đủ biện minh cho mức giá cao của mình. Vai trò của chiến lược kinh doanh. - Chiến lược kinh doanh giúp các tổ chức thấy rõ mục đích và hướng đi của mình, buộc các nhà quản trị xem xét và xác định xem tổ chức đi theo hướng nào và khi nào thì đạt tới vị trí nhất định. - Chiến lược kinh doanh giúp các nhà quản trị phân tích và dự báo các điều kiện trong môi trường tương lai gần cũng như tương lai xa.
- Chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp đưa ra các quyết định kinh doanh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phù hợp với môi trường kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả và năng suất trong sản xuất kinh doanh. - Chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp lựa chọn lợi thế cạnh tranh thích hợp trong môi trường kinh doanh luôn thay đổi, sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực hiện có và phân bổ chúng một cách hợp lý, phối hợp các chức năng trong tổ chức một cách tốt nhất trên cơ sở đạt đến mục tiêu chung của tổ chức. Phân loại chiến lược. Phân loại theo phạm vi chiến lược.
Chiến lược chung: hay còn gọi là chiến lược tổng quát, có ý nghĩa lâu dài và quyết định những vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Chiến lược bộ phận: là chiến lược cấp hai gồm: chiến lược sản phẩm, chiến lược giá, chiến lược marketing, chiến lược tài chính, chiến lược phân phối, chiến lược chiêu thị,… Chiến lược chung và chiến lược bộ phận liên kết với nhau thành một chiến lược kinh doanh hoàn chỉnh. Phân loại theo cấp độ chiến lược. Chiến lược cấp công ty: là chiến lược tổng thể của công ty nhằm đạt được mục tiêu của công ty.
Chiến lược cấp kinh doanh: là các chiến lược bộ phận các đơn vị kinh doanh của công ty, mỗi đơn vị chiến lược bộ phận nhằm đạt được mục tiêu cho đơn vị chức năng đó và tổng các đơn vị chiến lược giúp công ty đạt được mục tiêu của công ty. Chiến lược cấp chức năng: là chiến lược theo chức năng của công ty như chiến lược tài chính, chiến lược nguồn nhân lực, chiến lược marketing,… 1. Quy trình xây dựng chiến lược. Quy trình xây dựng chiến lược được thể hiện qua sơ đồ dưới đây (Hình 1.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sứ mạng Mục tiêu Cơ hội Xây dựng và Điểm mạnh Nguy cơ lựa chọn chiến Điểm yếu lược Hình 1.1: Quy trình xây dựng chiến lược kinh doanh. Sứ mạng và mục tiêu. Sứ mạng là một phát biểu có giá trị lâu dài về mục đích, nó phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Những tuyên bố như vậy cũng có thể gọi là phát biểu của doanh nghiệp về triết lý kinh doanh, những nguyên tắc kinh doanh, những sự tin tưởng của công ty.
Tất cả những điều đó xác định khu vực kinh doanh của doanh nghiệp, cụ thể là loại sản phẩm, dịch vụ cơ bản, những nhóm khách hàng cơ bản, nhu cầu thị trường, lãnh vực kỹ thuật hoặc là sự phối hợp những lãnh vực này. Sứ mạng chứa đựng tổng quát thành tích mong ước tuyên bố với bên ngoài công ty như là một hình ảnh công khai mà doanh nghiệp mong ước.(6) Mục tiêu được định nghĩa là những thành quả hay kết quả kinh doanh mà nhà quản trị muốn đạt được trong tương lai cho tổ chức mình. Mục tiêu chiến lược là những mục tiêu cơ bản dài hạn, có tính chất định hướng dài hạn cho sự phát triển của doanh nghiệp. Phân tích môi trường bên ngoài.
Môi trường bên ngoài đó là những yếu tố, những lực lượng, những thể chế,… nằm bên ngoài của doanh nghiệp mà nhà quản trị không kiểm sát được nhưng chúng lại ảnh hưởng đến hoạt động và kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Việc (6) Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam (2008), Chiến lược và chính sách kinh doanh, Nhà xuất bản lao động – xã hội, trang 49. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phân tích môi trường bên ngoài sẽ cho thấy những cơ hội và nguy cơ mà một tổ chức gặp phải từ đó các nhà quản trị có thể hoạch định chiến lược nhằm tận dụng những cơ hội và tránh hay làm giảm các nguy cơ đó. Môi trường bên ngoài bao gồm môi trường vĩ mô và môi trường vi mô.
Môi trường vĩ mô. Việc phân tích môi trường vĩ mô giúp doanh nghiệp trả lời cho câu hỏi: Doanh nghiệp đang đối diện với những gì? Đâu sẽ là cơ hội hay đe dọa cho công việc kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai? Yếu tố kinh tế. Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đối với sức thu hút tiềm năng của các chiến lược khác nhau. Các yếu tố kinh tế chủ yếu ảnh hưởng đến các doanh nghiệp là chu kỳ kinh tế, lãi suất, tỷ lệ lạm phát, cán cân thanh toán, chính sách tài chính và tiền tệ.
Yếu tố chính trị - luật pháp.