CHƯƠNG 1 THỊ TRƯỜNG NONG THON VIỆT NAM VÀ SU CAN THIET DAY MANH TIEU THU HANG VIET NAM O THI TRUONG NONG THON 1. Cac khái niệm 111. Khai niệm thị trường nông thôn Hiện nay chưa có một khái niệm hàn lâm, chính thức nào về thị trường nông thôn. Tuy nhiên, để cung cấp một cái nhìn tổng quát và dễ hiểu nhất về thị trường nay, có thể hiểu thị trường nông thôn là toàn bộ thị trường hàng hóa, dịch vụ diễn ra tại nông thôn.
Khái niệm về nông thôn cũng rất đa dạng. Theo đó nông thôn cũng có thể đồng nghĩa với làng, xóm, thôn. Trong tâm thức người Việt, đó là một môi trường kinh tế sản xuất với nghề trồng lúa nước cổ truyền, không gian sinh tồn, không gian xã hội và cảnh quan văn hóa xây đắp nên nền tảng tỉnh than, tạo thành lối sống, cốt cách và bản lĩnh người Việt (PGS Phan Xuân Sơn và Thạc sỹ Nguyễn Cảnh, Học viện hành chính quốc gia, 2008).Nhưng theo nghĩa đơn giản và phố cập nhất thì “Nông thôn Việt Nam là danh từ dé chỉ những vùng đất trên lãnh thé Việt Nam, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu băng đất nông nghiệp”( Bách khoa toàn thư mở 2009).Như vậy nghĩa đơn giản nhất của thị trường nông thôn là thị trường mà tại đó phần lớn người dân sinh sống chủ yếu bang đất nông nghiệp. Khai niệm hàng hóa Việt Nam 1.
Dưới góc nhìn sản phẩm Theo quan niệm cô điền, chúng ta có định nghĩa về hàng hóa. Theo đó “hàng Việt Nam” sẽ được hiểu là hàng hóa được sản xuất ở Việt Nam. Tuy nhiên vấn đề không đơn giản vì tỷ trọng xuất sứ trên một sản phẩm rất đa dạng, bao gồm nguyên liệu, công nghệ, thiết bị, nhân công, và các giá trị mềm kế cả giá trị thương hiệu. Chang hạn giày thé thao Nike có thé ghi là “made in Vietnam” nhưng không ai gọi đó là “hàng Việt Nam” theo nghĩ liên quan đến SVTH: Lương Thị Thanh Tâm 3 QTKDTM 49A Chuyên đê thực tập cuối khoá GVHD: TS.
Trần Văn Bão thương hiệu Việt Nam hay niềm tự hào Việt Nam.Như vay quan niệm sản phẩm rất cần đang bộc lộ những điểm khiếm khuyết rat cần được bổ sung. Theo đó một sản phẩm được coi là của hàng Việt Nam phải hội tụ các yếu tố sau: Một, sản xuất chủ yếu tại Việt Nam hay có tỷ phần sản xuất của Việt Nam vượt trội. Hai, thương hiệu (nhãn hiệu hàng hóa) do người Việt Nam sở hữu và đăng ký nhãn hiệu xuất xứ từ Việt Nam. Ba là nhà máy hoặc cơ sở sản xuất đặt tại Việt Nam nhưng thương hiệu hoặc chủ thương hiệu là pháp nhân nước ngoài.
Trong trường hợp thứ ba sẽ rất khó dé tìm ra khái niệm “Hàng Việt Nam”. Tuy nhiên với quan điểm xem cộng đồng doanh nhân nước ngoài sinh song va làm việc tại Việt Nam là một bộ phận của Việt Nam, cũng có thể xem đây là hàng Việt Nam, chắng hạn như các sản phẩm xe máy Honda, bột giặt Omo. Trong trường hợp này khái niệm “nội địa hóa” có thể phát huy tác dụng. Việc chấp nhận nhóm “nội địa hóa” cũng như % nội địa hóa trong tong khái niệm “Hàng Việt Nam” hoàn toàn tùy thuộc sự thống nhất quan điểm của các nhà hoạch định chính sách.
Đối với những chủng lọai (catogery) mà vai trò hình ảnh thương hiệu không quan trọng, chúng ta hoàn toàn có thé dựa vào % nội địa hóa để xác định “Hàng Việt Nam” cho sản phẩm. Dưới góc nhìn thương hiệu Dưới góc nhìn thương hiệu, còn cần phải phân tích những tình huống phức tạp trong nhãn hiệu hàng hóa và các khái niệm liên quan.Nhãn hiệu do người Việt Nam sở hữu.Nhãn hiệu do công ty liên doanh(hay công ty cổ phần) sở hữu, trong đó xét tỷ lệ % cá nhân hoặc nhóm cô đông người Việt Nam.Nhãn hiệu do người quốc tịch Việt Nam đăng ký bên ngoài lãnh thổ Việt Nam.Dưới góc nhìn thương hiệu thì “xuất xứ thương hiệu” quan trọng bên cạnh khái niệm “xuất xứ hàng hóa” nhất là trong việc xác lập “niềm tự hào, tự tôn dân tộc” trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện đại ngay nay. Một khái niệm mới là “Quốc tịch thương hiệu” hay “Xuất xứ thương hiệu” bổ sung cho khái SVTH: Lương Thị Thanh Tâm 4 QTKDTM 49A Chuyên đê thực tập cuối khoá GVHD: TS. Trần Văn Bão niệm xuất xứ sản pham.
Theo đó “Xuất xứ thương hiệu” là quốc gia xuất xứ nơi thương hiệu lần đầu tiên được đăng kí. Ví dụ một nhãn hiệu mỹ phẩm có tên gia định là L’Ovella do một doanh nghiệp sở hữu và pháp phân người Việt Nam đăng kí lần đầu tiên tại Pháp nhưng lại sản xuất và kinh doanh trước tiên tại thị trường Việt Nam. Như vậy sản phẩm này được coi là hàng Việt Nam. Một ví dụ khác về hàng Việt Nam là nhãn hiệu có tên quốc tế nhưng lại đăng kí trước tiên tại Việt Nam và hoàn toàn do người Việt Nam sở hữu như sản phẩm chăm sóc phụ nữ Diana, thời trang Vera.Dưới góc độ chuyên môn thì đây hoàn toàn là “hàng Việt Nam” vì cả sản phẩm và thương hiệu đều do người Việt Nam làm ra.
Càng ngày khái niệm “xuất xứ thương hiêu” càng quan trọng trong môi trường kinh tế toàn cầu trong đó một sản phẩm được sản xuất bởi nhiều quốc gia khác nhau thông qua một chuỗi giá trị. Dưới góc nhìn đầu tư và hội nhập Các nhà hoạch định chính sách đầu tư và hội nhập có thể có những quan điểm khác nhau trong việc định nghĩa “Hàng Việt Nam”. Bởi vì mục tiêu xúc tiến phát triển đầu tư có thể sẽ không chú ý đến các vấn đề thương hiệu so với các mối quan tâm và mục tiêu quốc tế dân sinh khác. Chăng hạn đối với nhu cầu tiêu dùng sản phẩm hàng không, chúng ta sẽ rất lung túng trước tình hình Jestar Pacific.
Trên thực tế liên doanh này hiện chính thức sử dụng thương hiệu Jestar chứ không con là Pacific nữa và khái niệm “Jestar Pacific” còn tồn tại rất mong manh. Cụ thé là khi sử dung webside thì tên chính thức là Jestar.com chứ không phải là Jestarpacific.com hay tương tự. Mặc dù tỷ phần vốn trong liên doanh hiện nay chỉ chiếm dưới 20% và bản thân doanh nghiệp trên thực tế về tài chính vẫn là 80% Qantas. Vậy Jestar có được công nhận là “hàng Việt Nam” hay không? VMS Mobifone được hình thành qua sự hợp tác của VNPT và Comvik Thụy Điển.
Thương hiệu Mobifone sau khi kết thúc liên doanh lại do phía Việt Nam sở hữu. Như vậy ngoài khái niệm “sản phẩm Việt Nam”, “thương hiệu Việt Nam” còn có một khái niệm liên quan đó là “giá trị Việt Nam”. Và có lẽ đây là nhóm khái niệm SVTH: Lương Thị Thanh Tâm 5 QTKDTM 49A Chuyên đê thực tập cuối khoá GVHD: TS. Trần Văn Bão phức tạp hơn cả.
Việc làm rõ khái niệm “giá trị Việt Nam” sẽ mở rộng biên giới của “hàng Việt Nam” và là một khái niệm trung gian gần nhất để hướng tới cái đích là “thương hiệu Việt Nam”. Vấn đề tên thương hiệu Vị thế quốc gia Việt Nam trên trường quốc tế hiện vẫn chưa thé so sánh với các quốc gia dẫn đầu. Theo đó vị thế thương hiệu và vị thế tên thương hiệu Việt Nam bằng ngôn ngữ tiếng Việt (thuần Việt) không phải lúc nao cũng được doanh nghiệp ưu tiên sử dụng. Về mặt chuyên môn chúng ta cũng phân tích những lợi điểm khi sử dụng tên theo những khuynh hướng giá trị thương hiệu hình thành theo từng quốc gia (hay nhóm quốc gia).
Chẳng hạn doanh nghiệp Việt Nam hay dùng tên mang “phong cách Nhật” cho các sản phẩm thiết bị điều hòa (ví dụ: Funiki, Mitsustar.Việc dùng tên mang âm hưởng văn hóa Nhật, hay một nước khác (Pháp, Ý, Anh.) có lẽ đáp ứng được những mụch đích khác nhau. Một là, nhu cầu sinh ngoại nhất thời trong tâm lý tiêu dùng như một sự thật trong khi rất nhiều sản phẩm cộng nghệ cao của Việt Nam chưa thé so sánh với các nước phát triển; Hai là, việc sử dụng tên mang âm hưởng ngôn ngữ quốc tế (international brand phonetic) là xu hướng tất yếu của hội nhập mặc dù nó luôn đi kèm thách thức về bản sắc; Ba là, ngoài tên thương hiệu còn có nhiều yếu tô khác dé chuyên tai tinh than, văn hóa, xuất xứ thương hiệu đến với khách hàng và công chúng. Thương hiệu Sonny lừng danh phải mat 3 năm mới hình thành. Năm 1955 công ty này có tên gọi là Tokyo Tsushin Kogyo Kabusai Kaisha, và sau đó đổi thành tên viết tắt là TTK, sau đó là Somni.
đến 1958 mới chính thức sử dụng SONY, một cdi tên không hé mang âm hưởng Nhật. Tuy vậy tinh than và gia trị Nhật Bản luôn tôn tại trong thương hiệu & sản phẩm SONY, cũng là tinh than và triết lý của ngài Akio Morita, nhà sáng lập và là linh hon của tập đoàn SONY. Dù sao đi nữa thì mục tiêu lâu dài đối với việc xây dựng và sở hữu những cái tên thương hiệu âm hưởng Việt hay thuần Việt vẫn được ưu tiên. Con đường đi đến đích này tùy thuộc vao vi thế của Việt Nam trên trường quốc tế vốn SVTH: Lương Thị Thanh Tâm 6 QTKDTM 49A Chuyên đê thực tập cuối khoá GVHD: TS.
Trần Văn Bão đang được cải thiện. Khi mà tên gọi Việt Nam và những tập ngữ liên quan được nhắc đến ngày càng nhiều hơn trong cộng đồng quốc tế thì niềm tự hào của mỗi người, mỗi doanh nghiệp Việt Nam sẽ được nâng cao va vi thế thương hiệu & hàng Việt Nam cũng sẽ nâng cao. Đặc điểm thị trường nông thôn 1. Sự phân bố dân cư, kết cấu dân cư Dân số tại khu vực nông thôn chiếm một tỷ trọng rất cao trên 70%.
Theo số liệu của Tổng cục thống kê tính đến năm 2008, dân số cả nước là 86,2 triệu người, trong đó dân số nông thôn chiếm gần 72% (khoảng 62 triệu người). Một bộ phận lớn dân số nông thôn hiện đang phân bố tại khu vực đồng bằng đồng bằng Sông Hong và đồng băng Sông Cửu Long (khoảng 44,5% tong dân số nông thôn trên cả nước). Tiếp đến là khu vực Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Một số vùng như Tây Bắc, Tây Nguyên chỉ chiếm khoảng 3,6% dân số nông thôn cả nước.
Bảng 1: Dân số nông thôn phân theo vùng (Pvt: 1000 người) Năm 2000 | 2004 | 2005 | 2006 | 2007 | 2008 | 2009 Cả nước 58.275 DB Sông Hồng | 14.990 Trung du và miên beat, nể 8772| 9.314 nui Phia Bac Bac Trung BO va duyên hai Miễn | 14.330 Trung Tay Nguyén 3.701 Đông Nam Bộ 4.897 Long ( Nguồn : Tổng cục Thong kê) SVTH: Lương Thị Thanh Tâm 7 QTKDTM 49A Chuyên đê thực tập cuối khoá GVHD: TS.