LỜI MỞ ĐẦU Năm 2007, với xu thế hội nhập quốc tế, nền kinh tế nƣớc ta đang trên đà khởi sắc. Tốc độ tăng trƣởng kinh tế đạt 8,48% - cao nhất trong 10 năm qua. Chất lƣợng tăng trƣởng của nền kinh tế từng bƣớc đƣợc nâng lên, duy trì tốc độ ổn định trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Đạt đƣợc kết quả đó là có sự đóng góp của ngành dịch vụ nói chung và ngành viễn thông nói riêng.
Viễn thông đang dần trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của cả nƣớc, góp phần là tăng GDP, tăng phúc lợi xã hội và góp phần nâng cao đời sống nhân dân. Sự phát triển của viễn thông trong những năm gần đây không thể không nhắc tới sự phát triển của thị trƣờng thông tin di động và công ty thông tin di động VMS. Đây là công ty thông tin di động ra đời đầu tiên ở Việt Nam với sự xuất hiện của mạng điện thoại MobiFone. Đến nay sau 15 năm xây dựng và phát triển, VMS đã trở thành công ty hàng đầu trong lĩnh vực thông tin di động ở Việt Nam.
Với những điểm mạnh về thƣơng hiệu nổi tiếng, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, hệ thống phân phối rộng khắp, đội ngũ cán bộ công nhân viên năng động sáng tạo… Công ty VMS đã khẳng định đƣợc vị trí cuả mình trong ngành thông tin di động nói chung và trong nền kinh tế nói riêng. Tuy nhiên, thông tin di động là một lĩnh vực đòi hỏi vốn đầu tƣ lớn và sự đổi mới liên tục về công nghệ kĩ thuật để nâng cao chất lƣợng mạng lƣới, chất lƣợng dịch vụ và đa dạng hoá các loại hình dich vụ. Các doanh nghiệp thông tin di động nói chung và công ty VMS nói riêng luôn phải đối mặt với những thách thức và khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh là điều kiện sống còn đối với mỗi doanh nghiệp, dù là doanh nghiệp đã thành công trên thị trƣờng hay doanh nghiệp mới bắt đầu kinh doanh.
Để có đƣợc vị trí mạng di động hàng đầu Việt Nam nhƣ ngày hôm nay, công ty thông tin di động VMS đã phải đầu tƣ rất nhiều công sức, tiền của, thời gian thì để giữ đƣợc thành công lại càng khó khăn hơn nhất là trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt nhƣ hiện nay. Các doanh nghiệp trên thị trƣờng luôn tìm mọi cách chia sẻ thị phần của công ty bằng nhiều biện pháp. Sự xuất hiện của các mạng mới luôn tiềm ẩn nguy cơ cạnh tranh trong tƣơng lai. Lê Thị Khánh Linh 1 Lớp: Thương mại 46B LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyên đề tốt nghiệp Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của các biện pháp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh đối với các doanh nghiệp thông tin di động và có đƣợc những tìm hiểu thực tế về hoạt động kinh doanh của công ty trong thời gian thực tập, em đã lựa chọn đề tài “Biện pháp đẩy mạnh kinh doanh của công ty thông tin di động VMS”.
Kết cấu của chuyên đề gồm có 3 chƣơng: ChƣơngI: Tổng quan về hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thông tin di động. ChƣơngII: Phân tích thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty thông tin di động VMS. ChƣơngIII: Phƣơng hƣớng và giải pháp đẩy mạnh kinh doanh của công ty thông tin di động VMS. Lê Thị Khánh Linh 2 Lớp: Thương mại 46B LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyên đề tốt nghiệp CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THÔNG TIN DI ĐỘNG 1.
Khái quát về dịch vụ thông tin di động 1.1 Dịch vụ thông tin di động 1.1 Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ Kể từ khi xuất hiện dịch vụ đã làm cho cuộc sống của con ngƣời trở nên văn minh hơn, thuận tiện hơn. Dịch vụ đáp ứng những nhu cầu của con ngƣời một cách nhanh chóng và hiệu quả. Dịch vụ phát triển cùng với sự đi lên của chất lƣợng cuộc sống. Vì thế, cuộc sống ngày nay của con ngƣời không thể thiếu dịch vụ.
Không những thế, dịch vụ có đóng góp to lớn cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, làm thay đổi cơ cấu của nền kinh tế, cơ cấu tiêu dùng xã hội. Đối với doanh nghiệp, dịch vụ còn là công cụ cạnh tranh đầy uy lực và không có giới hạn cuối cùng. Doanh nghiệp sử dụng dịch vụ nhƣ một công cụ hữu hiệu để đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng. Vậy dịch vụ là gì? a.
Khái niệm dịch vụ Các Mác cho rằng : Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, khi mà kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lƣu thông trôi chảy, thông suốt, liên tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con ngƣời thì dịch vụ phát triển. Bằng cách tiếp cận dƣới góc độ kinh tế, Các Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và động lực phát triển của dịch vụ. Theo lý thuyết kinh tế, dịch vụ là một loại sản phẩm kinh tế không phải là vật phẩm mà là công việc của con ngƣời dƣới hình thái lao động thể lực, kiến thức và kĩ năng chuyên nghiệp, khả năng tổ chức và thuơng mại. Hiện nay đang có rất nhiều quan niệm khác nhau về dịch vụ nhƣ: Dịch vụ là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết quả của chúng không tồn tại dƣới hình thái vật phẩm.
Hoạt động dịch vụ bao trùm lên tất cả các lĩnh vực với trình độ cao, chi phối rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế xã hội, môi trƣờng của từng quốc gia, khu vực nói riêng và toàn thế giới nói chung. Lê Thị Khánh Linh 3 Lớp: Thương mại 46B LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyên đề tốt nghiệp Dịch vụ là những hoạt động có ích của của con ngƣời tạo ra những “sản phẩm dịch vụ”, không tồn tại dƣới hình thái sản phẩm, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thoả mãn kịp thời, đầy đủ, thuận tiện và văn minh các nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội của con ngƣời. Có tác giả lại định nghĩa: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất.
Các định nghĩa trên về dịch vụ đều đúng. Sự khác nhau của các định nghĩa là do các tác giả khái quát dƣới các góc độ khác nhau. Chúng ta có thể hiểu dịch vụ theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp nhƣ sau. Theo nghĩa rộng: Dịch vụ là ngành kinh tế lớn thứ ba trong nền kinh tế quốc dân.
Dịch vụ nằm trong cấu trúc nền sản xuất xã hội, ngoài hai lĩnh vực sản xuất lớn là ngành công nghiệp và ngành nông nghiệp ra, các ngành còn lại đều là ngành dịch vụ. Theo nghĩa hẹp: Dịch vụ là hoạt động hỗ trợ cho quá trình kinh doanh. Nó bao gồm các hoạt động hỗ trợ trƣớc, trong và sau khi bán , hay nói cách khác dịch vụ là phần mềm của sản phẩm cung ứng cho khách hàng. Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại dịch vụ: * Căn cứ vào mức độ hoạt động có thể chia dịch vụ thành: - Dịch vụ thuần tuý là dịch vụ không có sản phẩm vật chất kèm theo hoặc không có các dịch vụ bổ sung khác.
- Dịch vụ chính có kèm theo dịch vụ bổ sung. Dịch vụ bổ sung giúp doanh nghiệp phục vụ đầy đủ, thuận tiện, kịp thời, văn minh cho khách hàng, có tác dụng rất lớn thu hút khách hàng, cũng nhƣ nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. - Dịch vụ có kèm theo sản phẩm vật chất hoặc mua bán các sản phẩm vật chất có kèm theo các sản phẩm dịch vụ. * Căn cứ vào quá trình bán hàng Lê Thị Khánh Linh 4 Lớp: Thương mại 46B LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyên đề tốt nghiệp - Dịch vụ trƣớc bán hàng - Dịch vụ trong bán hàng - Dịch vụ sau bán hàng * Căn cứ vào nhóm dịch vụ - Dịch vụ mang tính chất sản xuất - Dịch vụ thuần tuý góp phần chuyển hoá hình thái giá trị sản phẩm hàng hoá - Dịch vụ mang tính chất quản lý kinh doanh * Tổ chức Thƣơng mại thế giới WTO lại phân loại dịch vụ theo ngành, trong đó có 12 ngành chính gồm 155 tiểu ngành, mỗi ngành lại chia ra thành các phân ngành cụ thể.
- Dịch vụ kinh doanh - Dịch vụ liên lạc - Dịch vụ xây dựng và thi công - Dịch vụ phân phối - Dịch vụ giáo dục - Dịch vụ môi trƣờng - Dịch vụ tài chính - Dịch vụ liên quan đến sức khoẻ và dịch vụ xã hội - Dịch vụ du lịch và dịch vụ liên quan đến lữ hành - Dịch vụ giải trí, văn hoá và thể thao - Dịch vụ vận tải - Dịch vụ khác b. Đặc điểm của dịch vụ Từ những khái niệm về dịch vụ, chúng ta có thể thấy sản phẩm dịch vụ và sản phẩm vật chất thông thƣờng có những đặc điểm khác biệt rõ rệt. Doanh nghiệp kinh Lê Thị Khánh Linh 5 Lớp: Thương mại 46B LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyên đề tốt nghiệp doanh các loại hình dịch vụ cần nắm đƣợc những đặc điểm này để có các hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp. Thứ nhất, sản phẩm dịch vụ không thể xác định cụ thể bằng các tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc bằng các chỉ tiêu chất lƣợng một cách rõ ràng.
Là sản phẩm vô hình nên sản phẩm dịch vụ khác với sản phẩm vật chất có tính chất cơ lý hoá và tiêu chuẩn kỹ thuật nhƣ công suất, mức tiêu hao nhiên liệu… có thể xác định và sản xuất hàng loạt theo tiêu chuẩn hoá. Chất lƣợng của sản phẩm dịch vụ đƣợc đánh giá bằng các giác quan của ngƣời sử dụng nhƣ nhìn, nghe, ngửi, nếm… trên cơ sở cảm nhận thông qua danh tiếng hoặc thực tế đƣợc phục vụ. Thứ hai, sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời nên cung cầu dịch vụ không thể tách rời nhau mà phải tiến hành cùng lúc. Do vậy mà sản phẩm dịch vụ không thể cất trữ trong kho, làm phần đệm điều chỉnh sự thay đổi nhu cầu thị trƣờng nhƣ các sản phẩm vật chất khác… Đối với các sản phẩm vật chất, ngƣời sản xuất có thể dự trữ đƣợc , có thể vận chuyển đi các nơi để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng theo sự điều tiết của quy luật cung cầu.