CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. THU NHẬP CUA NGƯỜI LAO ĐỘNG Tại Việt Nam, theo Tổng Cục Thống Kê (2014), thu nhập người lao động được định nghĩa như sau: “Thu nhập từ việc làm là khoản tiền công dưới dạng tiền mặt hoặc hiện vật trả cho người làm công ăn lương đối với thời gian hoặc công việc đã làm, cùng với khoản tiền trả cho thời gian không làm việc như nghỉ phép hoặc nghỉ hè hàng năm, nghỉ lễ hoặc các thời gian nghỉ khác được trả lương, bao gồm cả những khoản tiền công khác được nhận thường xuyên có tính chất như lương trước khi người chủ khấu trừ [các khoản mà người chủ đã đóng cho người làm công ăn lương như: thuế, đóng bảo hiểm xã hội, tiền đóng cho chế độ hưu trí, phí bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội trả thay lương (trả cho người lao động trong thời gian nghỉ việc vì ốm đau, thai sản, tai nạn lao động), phí đoàn thé và các khoản nghĩa vụ khác của người làm công ăn lương]. Không tính vào thu nhập từ việc làm các khoản sau: tiền bảo hiểm xã hội và tiền cho chế độ hưu trí mà người chủ đã đóng cho người làm công ăn lương và những phúc lợi mà người làm công ăn lương đã nhận được từ các khoản này, tiền chỉ trả cho kết thúc hợp đồng, các khoản phúc lợi không thường xuyên (như tiền thưởng cuối năm,.
Trong bảng câu hỏi điều tra Lao động Việc làm Việt Nam năm 2018, thu nhập của người điều tra được định nghĩa là: “số tiền người đó kiếm được trong tháng trước khi làm khảo sát, của cả công việc chính, kế cả tiền làm thêm gid, tién thuong, tién phu cap nghé và tiên phúc lợi khác cho tat cả các công việc”. Tuy nhiên Thu nhập trong nghiên cứu này được giới hạn chỉ tính là “tiền lương kiếm được từ công việc chính của người lao động”, tức là không tính những thu nhập từ các việc làm thêm giờ hoặc thu nhập từ các công việc khác không phải công việc chính của cá nhân đó. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu các yếu tố tác động đến thu nhập của người lao động. Borjas (2013) cho rằng: “tiền lương của một người phụ thuộc vào tuổi tác của người đó.
Tiền lương tương đối thấp với người lao động trẻ, tăng lên khi họ trưởng thành và tích lũy được vốn con người, rồi có thể giảm nhẹ đối với người lao động lớn tuổi”. Đồng thời, Borjas (2005) cũng đã trình bày “đường tiền lương theo học vấn” cho thấy tiền lương các doanh nghiệp sẵn sàng trả tương ứng mỗi trình độ học van, thể hiện mối quan hệ giữa lương và số năm đi học. Đường này có ba tinh chất quan trọng: Cis 11180097 — Đặng Vũ Hai Anh 11 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán Kinh tế “1. Đường tiền lương theo học vấn đốc lên do “lương đền bù” cho học van.
Độ dốc của đường tiền lương theo học van cho thấy mức tăng thu nhập khi người lao động có thêm một năm học vân. Đường tiền lương theo học van là đường cong lỗi cho thấy mức gia tăng biên của tiền lương giảm dần khi tăng thêm số năm đi học.” Mincer (1974) đề xuất hàm thu nhập và nó được sử dụng rộng rãi đến bây giờ, nó cũng được gọi là hàm Mincer hoặc mô hình hồi quy thu nhập Mincer. Nghiên cứu này phát triển mô hình nghiên cứu dựa trên mô hình Mincer để ước lượng mối quan hệ giữa ngành đào tạo với tiền lương của người lao động, và bổ sung thêm một số biến kiểm soát khác dựa trên đữ liệu thu được từ “Cuộc điều tra Lao động Việc làm Việt Nam năm 2018” bao gồm đặc điểm cá nhân (giới tính, khu vực sống, vùng kinh tế), các yếu tố liên quan đến công việc hiện tại (kinh nghiệm làm việc, tình trạng làm việc trái ngành, khu vực làm việc) và yếu tố chuyên môn (ngành đào tạo). PHUONG PHÁP NGHIÊN CỨU Mincer (1974) đã đề xuất hàm thu nhập của một cá nhân mà theo đó, “logarit thu nhập của cá nhân i ở một thời điểm ¿ trong cuộc đời là một hàm SỐ phụ thuộc tuyến tính theo số năm đi học của cá nhân đó và phụ thuộc theo bậc hai của số năm kinh nghiệm làm việc”.
Hàm thu nhập của Mincer có dạng cơ bản như sau: InY, = InYạ + rt + £¡ Với: ¢ là số năm đi học của cá nhân. Yo là thu nhập hàng năm của cá nhân không đi học. Y; là thu nhập hang năm của cá nhân có đi học ¢ năm. r là lợi suất biên, tức tỷ lệ phần trăm thu nhập tăng thêm với một năm đi học.
Phương trình trên trình bày kết luận cơ bản rằng, logarit cơ số tự nhiên của thu nhập là hàm tỷ lệ thuận với số năm đi học t, và hệ số của ¢ biểu thị tỷ lệ phần trăm gia tăng thu nhập khi tăng thêm một năm đi học chính là tỷ suất biên r. Day là dang hàm ước lượng thu nhập cơ bản nhất. Dạng mô hình đây đủ hơn của hàm thu nhập Mincer bao gôm cả yêu tô kinh nghiệm. Tức thu nhập của một người lao động có liên quan đên sô năm di học và sô năm làm việc của người đó.
11180097 — Dang Vũ Hải Anh 12 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán Kinh tế Như vậy với hàm thu nhập của Mincer cho chúng ta thây được yêu tô vôn con người trong đó cơ bản là sô năm di học va sô năm làm việc có ảnh hưởng tới thu nhập cua người lao động. Hàm thu nhập Mincer được diễn dịch từ các phương trình toán học, do vậy mang tính chặt chẽ và tin cậy cao. Việc sử dụng logarit tự nhiên làm biến phụ thuộc có tác dụng làm giảm độ lệch phải của dữ liệu. Với mô hình hàm thu nhập Mincer có thể mở rộng, tích hợp các biến khác vào phương trình dé nghiên cứu tác động của chúng đối với thu nhập.
Dựa trên hàm ước lượng thu nhập của Mincer và thêm vào một sô biên kiêm soát như đã nêu ở phân 1.1, mô hình ước lượng thu nhập của người lao động trong nghiên cứu được đưa ra ở phương trình (1): InW; = Bo + BX, + BoE; + B3Fi + BạM, + PsŠS; + 6¿R¡ + 6;U, +e; (1) Trong đó InW; đại diện cho logarit tự nhiên của thu nhập theo thang của cá nhân i. X; là biến đại điện cho đặc điểm nhân khẩu học (ở đây chi bao gồm giới tính), E; là vector gồm các biến đại diện cho kinh nghiệm làm việc (số năm làm việc vả giá trị bình phương của nó). F; là vector bao gồm 15 biến giả đại diện cho 15 ngành đào tạo khác nhau, trong đó ngành kinh doanh quản lý được coi là phạm trù cơ sở. M; là biến giả của tinh trạng làm việc trái ngành đào tạo của cá nhân (1 = Có, 0 = Không).
5S; là biến giả đại diện cho khu vực mà cá nhân đó làm việc có phải là khu vực nhà nước hay không (1 = Có, 0 = Không). R; đại điện cho vùng cá nhân đó đang sinh sống, là vector bao gồm 5 biến giả đại diện cho 5 vùng kinh tế địa lý khác nhau và vùng đồng bằng sông Hồng được coi như phạm trù cơ sở. U; là biến giả cho biết cá nhân đó có sống ở khu vực thành thi hay không (1 = Có, 0 = Không). Và cuối cùng, ei đại điện cho phan sai SỐ trong mô hình.
Vấn đề làm việc ở khu vực công lập hay ngoài công lập cũng là một vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm. Theo như tính toán từ mẫu số liệu của nghiên cứu, sé lượng lớn người tốt nghiệp đại học chọn làm ở khu vực công lập (65,38% người tốt nghiệp đại học làm ở khu vực công lập, theo bang 2. Tuy nhiên, lương của khu vực công thường không phản ánh được mức lương của thị trường lao động (Psacharopoulos, Patrinos, 2002). Do đó, theo đề xuất của Psacharopoulos và Patrinos (2002), việc ước lượng mức lương theo các ngành đào tạo cho các công chức là rất hữu ích cho chính phủ để khuyến khích đầu tư vào giáo dục cũng như hữu ích cho những người có nhu cầu tìm việc làm trong khu vực nhà nước.
Cis 11180097 — Đặng Vũ Hai Anh 13 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán Kinh tế InWyubtic = Bo + 1X; + BoE; + B3Fi + BạM; + BsSi + P¿R¡ + B;U; + e;¡ (2) InWnen-pupuc = Bo + 1X: + B2E; + B3Fi + BạM; + BsS; + Be Ri + B7U; + e; (3) Tuy nhiên, một van dé phát sinh có thé nhận thấy sau khi thực hiện hồi quy phương trình (2) và (3), đó là biến khu vực làm việc của người lao động (biến S;) đường như là biến nội sinh trong mô hình hồi quy thu nhập của người đó. Lý do là vì có một số đặc điểm không quan sát được có thể tác động lên việc một cá nhân có chọn khu vực nhà nước hay không, đồng thời cũng tác động lên tiền lương của cá nhân đó khi đã có việc làm. Đề kiểm định van đề nội sinh của biến khu vực làm việc Si trong mô hình, kiểm định Durbin — Wu — Hausman được thực hiện với biến $, Kết quả của kiểm định được đưa ở hình | cho thấy có hiện tượng nội sinh trong mô hình. Do đó việc thực hiện ước lượng OLS là không tốt.
Tests of endogeneity Ho: variables are exogenous Robust score chi2(1) = 327. Kiểm định Durbin — Wu — Hausman cho biến nội sinh khu vực lam việc Nguồn: Tính toán thông qua phan mém Statal4 Vậy nên, mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh (“endogenous switching regression model”, Lokshin, Sajaia, 2004) được sử dụng dé khắc phục vấn đề nội sinh. Một mô hình hồi quy chuyên đổi nội sinh cho thu nhập của người lao động làm ở khu vực nhà nước và ngoai nhà nước được đưa ra ở phương trình (4), (5) va (6) như dưới đây: InW(public), =Bạ + B.X, + BF + ByM, + B„5, +BsR, + BU; +e, (4) InWtfprivate). = By + B,X, +B,F; +B,M, +B„S, +B;R, +B,U, +e, (5) I; = 5(InW( public), — InWB_ i rivate)) + jy + , (6) O đây 7,” là một biên ân biêu thị khu vực mà cá nhân i làm việc là nhà nước hay ngoài nha nước.
Z; là vector gôm các biên công cụ, các biên công cụ nay mang đặc điêm là có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn khu vực làm việc nhưng không ảnh hưởng đến thu hà. ằ®ằẰẶW—ảặ⁄ 11180097 — Đặng Vũ Hải Anh 14 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán Kinh tế nhập của người lao động.