đặt vấn đề Luật quốc tế có phải thật sự là luật hay không? [38]. Mặc dù vậy, trong phạm trù học thuật, các nước trên thế giới đều thống nhất với nhau về thuật ngữ “công pháp quốc tế” (public international law) để chỉ một ngành luật điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia, các tổ chức quốc tế… với nhau. Tóm lại, chế tài là hậu quả pháp lý bất lợi mà người có hành vi vi phạm phải gánh chịu. Nó biểu hiện thái độ của Nhà nước và của người bị vi phạm đối với người vi phạm và là điều kiện đảm bảo cần thiết cho việc tuân thủ pháp luật, tuân thủ hợp đồng.
Chế tài thương mại là hậu quả pháp lý bất lợi được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật thương mại khi họ không thực hiện hay thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các hành vi thương mại. Có quan niệm cho rằng chế tài thương mại bao gồm cả các chế tài áp dụng cho các hành vi vi phạm chế độ quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực thương mại, xâm phạm trật tự quản lý hoạt động thương mại của Nhà nước (Giáo trình Luật thương mại – ĐH Luật HN 1997). Theo quan niệm này, chế tài thương mại lại trùm lấn sang cả lĩnh vực hành chính, hình sự. Trong khoa học pháp lý, mỗi lĩnh vực pháp luật có những hình thức chế tài riêng của nó, tên của những chế tài này được gọi theo lĩnh vực pháp luật mà ngành luật đó điều chỉnh, ví dụ như chế tài hình sự, chế tài hành chính, chế tài dân sự… Theo nguyên lý này, chế tài thương mại là chế tài thuộc ngành luật thương mại, có nghĩa là chế tài thuộc luật tư.
Thế nhưng Luật Thương mại 2005 đã bao gồm trong nó cả các qui định của luật công. Điều 320 của đạo luật này qui định cả các hành vi vi phạm sau: - Vi phạm quy định về đăng ký kinh doanh; giấy phép kinh doanh của thương nhân; thành lập và hoạt động của Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân Việt Nam và của thương nhân nước ngoài; - Vi phạm quy định về hàng hóa, dịch vụ kinh doanh trong nước và hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu; tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập; chuyển khẩu; quá cảnh; - Vi phạm chế độ thuế, hóa đơn chứng từ, chứng từ, sổ và báo cáo kế toán; - Vi phạm quy định về giá hàng hóa, dịch vụ; - Vi phạm quy định về ghi nhãn hàng hóa lưu thông trong nước và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; - Buôn lậu, kinh doanh hàng nhập lậu, buôn bán hàng giả hoặc nguyên liệu, vật liệu phục vụ cho sản xuất hàng giả, kinh doanh trái phép; - Vi phạm các quy định liên quan đến chất lượng hàng hóa, dịch vụ kinh doanh trong nước và hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu; 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Gian lận, lừa dối khách hàng khi mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; - Vi phạm các quy định liên quan đến bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng; - Vi phạm các quy định về quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa, dịch vụ kinh doanh trong nước và xuất, nhập khẩu; - Vi phạm quy định về xuất xứ hàng hóa; - Các vi phạm khác trong hoạt động thương mại theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên các vi phạm này hầu hết là các vi phạm hành chính hoặc hình sự mà chế tài đối với chúng có thể được qui định tại các văn bản pháp luật về hành chính hay hình sự, chứ không được qui định tại đạo luật thương mại hay dân sự. Đạo luật về thương mại đôi khi không phản ánh đúng với cấu trúc bên trong của ngành luật thương mại - với tính cách là một ngành luật tư.
Có lẽ chỉ xuất phát từ đạo luật về thương mại (Luật Thương mại 2005) nên có quan niệm cho rằng chế tài thương mại có thể được hiểu theo hai nghĩa: chế tài thương mại theo nghĩa rộng (bao gồm cả các chế tài áp dụng cho các vi phạm hành chính và vi phạm hình sự) và chế tài thương mại theo nghĩa hẹp [8]. Muốn xác định phạm vi và các hình thức của chế tài thương mại thì trước hết người ta phải tiếp cận từ khái niệm luật thương mại với tính cách là một ngành luật điều chỉnh quan hệ giữa các thương nhân với nhau hoặc hành vi thương mại [5]. Luật thương mại có hai mảng vấn đề lớn - đó là thương nhân và hành vi thương mại. Xét cho cùng, ngoài qui chế thương nhân và các qui định về thương nhân thể nhân, các qui định còn lại của chế định thương nhân phần lớn nói về thương nhân pháp nhân (nói cách khác là các hình thức công ty).
Và điều cần lưu ý rằng công ty là hành vi thương mại bởi hình thức 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Do vậy khi nói tới luật thương mại là nói tới một ngành luật điều chỉnh các hành vi thương mại với tính cách là các hành vi pháp lý có tính chất thương mại [5]. Chính vì thế, chế tài thương mại hầu hết là các chế tài đối với vi phạm hợp đồng thương mại. Có lẽ với tư duy như vậy, nên Luật Thương mại 2005 qui định tại Điều 292 các loại chế tài thương mại bao gồm: - Buộc thực hiện đúng hợp đồng - Phạt vi phạm - Buộc bồi thường thiệt hai - Tạm ngừng thực hiện hợp đồng - Đình chỉ thực hiện hợp đồng - Hủy bỏ hợp đồng - Các biện pháp khác do các bên thỏa thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế.
Như vậy, theo quy định này, các loại chế tài trong thương mại kể trên chỉ được áp dụng giữa các bên tham gia hợp đồng thương mại khi một bên vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Theo nghĩa này, chế tài thương mại là các chế tài phát sinh khi có vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hành vi thương mại mà nhà làm luật gọi là “chế tài trong thương mại”. Các chế tài này có thể là những chế tài do pháp luật quy định hoặc có thể là các chế tài do các bên thỏa thuận. Theo Điều 300 LTM, bên vi phạm chỉ phải trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận.
Điều này có nghĩa là nếu các bên có thỏa thuận về điều khoản phạt vi phạm trong hợp đồng thì khi có vi phạm, bên bị vi phạm mới có quyền yêu cầu bên vi phạm gánh chịu chế tài phạt. Ngược lại nếu không có thỏa thuận thì không được áp dụng chế tài này. Còn các chế tài khác thì bên bị vi phạm hoàn toàn có quyền yêu cầu áp dụng theo quy định của pháp luật. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tóm lại, chế tài thương mại hầu hết là các chế tài hợp đồng.
Bên bị vi phạm có quyền áp dụng đối với bên vi phạm khi bên vi phạm không thực hiện đúng hợp đồng đã giao kết. Trách nhiệm và chế tài Theo lẽ thường, khi hợp đồng được giao kết mà không chống lại các điều kiện có hiệu lực theo quy định của pháp luật và không bị tuyên vô hiệu, thì các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Bên nào vi phạm phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình bằng việc phải gánh chịu các hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi vi phạm gây ra, tức là bên vi phạm sẽ bị áp dụng các chế tài nhất định. Vậy giữa trách nhiệm và chế tài có mối quan hệ như thế nào? Có quan điểm cho rằng không có sự thống nhất giữa BLDS 2005 và LTM 2005 vì BLDS sử dụng thuật ngữ “trách nhiệm dân sự” như “trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ giao vật” tại Điều 303, “trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc” tại Điều 304, “trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự” tại Điều 305… Còn LTM lại sử dụng thuật ngữ “chế tài” như tại Điều 292 liệt kê “các loại chế tài trong thương mại”: buộc thực hiện đúng hợp đồng; phạt vi phạm; buộc bồi thường thiệt hại; tạm ngừng thực hiện hợp đồng; đình chỉ thực hiện hợp đồng; hủy bỏ hợp đồng; các biện pháp khác do các bên thỏa thuận… và đi đến kết luận: “đối với cùng một vấn đề “bồi thường thiệt hại” BLDS coi đây là trách nhiệm dân sự còn LTM coi đây là “chế tài” [12; tr.
Theo quan niệm của chúng tôi, “trách nhiệm dân sự” là một hình thức trách nhiệm pháp lý và cũng như các hình thức trách nhiệm pháp lý khác như trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính… và “chế tài” là hai khái niệm pháp luật khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Khái niệm 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “trách nhiệm pháp lý” mà cụ thể ở đây nói đến “trách nhiệm dân sự” có nội hàm rộng hơn và mang tính khái quát hơn khái niệm “chế tài”. Chúng tôi cho rằng chế tài là hình thức biểu hiện cụ thể của trách nhiệm pháp lý. Ví dụ: khoản 1 Điều 304 BLDS quy định về trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc: trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện một công việc mà mình phải thực hiện thì bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hoặc tự mình thực hiện hoặc giao cho người khác thực hiện công việc đó và yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.
Như vậy, trách nhiệm của người không thực hiện nghĩa vụ là phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi dưới hình thức bồi thường thiệt hại. Trong các giáo trình luật kinh tế của Khoa Luật – ĐHKHXH&NV trước đây cũng như giáo trình Luật kinh tế của Trường ĐH Luật Hà Nội khi nói về trách nhiệm tài sản hay trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng kinh tế cũng cho rằng phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại là các hình thức trách nhiệm tài sản [19], [9]. Một ví dụ đơn giản là người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự, tức là người đó phải chịu các hình phạt như cải tạo không giam giữ, bị phạt tù, hay bị tử hình.